Địa lý Việt Nam

Tên nước: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thủ đô: Hà Nội

Vị trí địa lý: Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất trên đất liền khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km.

Dân số: Theo kết quả điều tra, năm 2014 dân số Việt Nam là 90728.9 nghìn người, trong đó có 44758.1 nghìn nam (chiếm 49,33%) và 45970.8 nghìn nữ (chiếm 50,67%).

(Nguồn: Tổng Cục Thống kê)

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam dao động từ 21oC đến 27oC và tăng dần từ Bắc vào Nam. Mùa hè, nhiệt độ trung bình trên cả nước là 25oC (Hà Nội 23oC, Huế 25oC, thành phố Hồ Chí Minh 26oC). Mùa đông ở miền Bắc, nhiệt độ xuống thấp nhất vào các tháng Mười Hai và tháng Giêng. Ở vùng núi phía Bắc, như Sa Pa, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn, nhiệt độ xuống tới 0oC, có tuyết rơi.

Việt Nam có lượng bức xạ mặt trời rất lớn với số giờ nắng từ 1.400 – 3.000 giờ/năm. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 đến 2.000 mm. Độ ẩm không khí trên dưới 80%. Do ảnh hưởng gió mùa và sự phức tạp về địa hình nên Việt Nam thường gặp bất lợi về thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán.

Khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn. Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính khí hậu lục địa. Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của đất liền. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt. Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây. Do chịu sự tác động mạnh của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ trung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ ở Châu Á.

Việt Nam có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn: (1) Miền Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt (xuân-hạ-thu-đông), chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ lục địa châu Á tới) và gió mùa đông Nam, có độ ẩm cao. (2) Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa).

Bên cạnh đó, do cấu tạo của địa hình, Việt Nam còn có những vùng tiểu khí hậu. Có nơi có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; có nơi thuộc khí hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La.

Địa hình: Việt Nam đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa, phản ánh lịch sử phát triển địa chất, địa hình lâu dài trong môi trường gió mùa, nóng ẩm, phong hóa mạnh mẽ. Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, được thể hiện rõ qua hướng chảy của các dòng sông lớn.

Đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp. Địa hình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ. Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm 1%. Đồi núi Việt Nam tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông, chạy dài 1400 km, từ Tây Bắc tới Đông Nam Bộ. Những dãy núi đồ sộ nhất đều nằm ở phía Tây và Tây Bắc với đỉnh Phan-xi-phăng cao nhất bán đảo Đông Dương (3.143m). Càng ra phía đông, các dãy núi thấp dần và thường kết thúc bằng một dải đất thấp ven biển. Từ đèo Hải Vân vào Nam, địa hình đơn giản hơn. Ở đây không có những dãy núi đá vôi dài mà có những khối đá hoa cương rộng lớn, thỉnh thoảng nhô lên thành đỉnh cao; còn lại là những cao nguyên liên tiếp hợp thành Tây Nguyên, rìa phía đông được nâng lên thành dãy Trường Sơn.

Đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích trên đất liền và bị đồi núi ngăn cách thành nhiều khu vực. Ở hai đầu đất nước có hai đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là đồng bằng Bắc Bộ (lưu vực sông Hồng, rộng 16.700 km2) và đồng bằng Nam Bộ (lưu vực sông Mê Công, rộng 40.000 km2). Nằm giữa hai châu thổ lớn đó là một chuỗi đồng bằng nhỏ hẹp, phân bố dọc theo duyên hải miền Trung, từ đồng bằng thuộc lưu vực sông Mã (Thanh Hóa) đến Phan Thiết với tổng diện tích 15.000 km2.

Việt Nam có ba mặt Đông, Nam và Tây-Nam trông ra biển với bờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía đông và đông nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc. Chỉ riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000 hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, các đảo Cát Hải, Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ… Xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phía Tây-Nam và Nam có các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu.

Sông ngòi: Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc- Đông Nam và vòng cung. Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông Mê Công tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu. Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3 nước. Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ chiếm tới 70-80% lượng nước cả năm và thường gây ra lũ lụt.

Đất đai, thực vật, động vật:

Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp. Việt Nam có hệ thực vật phong phú, đa dạng (khoảng 14 600 loài thực vật). Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánh sáng, nhiệt độ lớn và độ ẩm cao. 

Quần thể động vật ở Việt Nam cũng phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài thú quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ của thế giới. Hiện nay, đã liệt kê được 275 loài thú có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng thể, 2.400 loài cá, 5.000 loài sâu bọ. (Các rừng rậm, rừng núi đá vôi, rừng nhiều tầng lá là nơi cư trú của nhiều loài khỉ, voọc, vượn, mèo rừng. Các loài voọc đặc hữu của Việt Nam là voọc đầu trắng, voọc quần đùi trắng, voọc đen. Chim cũng có nhiều loài chim quý như trĩ cổ khoang, trĩ sao. Núi cao miền Bắc có nhiều thú lông dày như gấu ngựa, gấu chó, cáo, cầy…)

Việt Nam đã giữ gìn và bảo tồn một số vườn quốc gia đa dạng sinh học quý hiếm như Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn (khu vực núi Phan-xi-phăng, Lào Cai), Vườn quốc gia Cát Bà (Quảng Ninh), vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình),  vườn quốc gia  Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình), vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), vườn quốc gia Côn Đảo (đảo Côn Sơn, Bà Rịa-Vũng Tàu), vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai)… Các vườn quốc gia này là nơi cho các nhà sinh học Việt Nam và thế giới nghiên cứu khoa học, đồng thời là những nơi du lịch sinh thái hấp dẫn. Ngoài ra, UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam là khu dự trữ sinh quyển thế giới như Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Châu thổ sông Hồng, Cù Lao Chàm, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau…

(Nguồn: Bộ Ngoại giao)

Advertisements

Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

GIỚI THIỆU VỀ VIỆT NAM

Việt Nam là một đất nước độc đáo. Với diện tích không lớn nhưng bao gồm đa dạng các loại địa hình, cảnh quan thiên nhiên phong phú, giàu truyền thống, phong tục, tập quán, đậm đà bản sắc dân tộc. Thêm vào đó là sự đa dạng của cuộc sống các dân tộc, ngôn ngữ và ẩm thực.

NHỮNG DÒNG SÔNG CHỞ NẶNG PHÙ SA VÀ THÀNH PHỐ MÀU HUYẾT DỤ
Để hiểu hơn về Việt Nam, mời các Bạn cùng chúng tôi trải nghiệm chuyến du lịch xuyên Việt đặc sắc từ những đền chùa cổ kính ở miền Bắc đến Sài Gòn sầm uất, hiện đại tại miền Nam. Dãy núi Hoàng Liên Sơn, nơi sinh sống của những dân tộc ít người với truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá độc đáo của vùng biên giới phía Bắc – vịnh Hạ Long đẹp như trong tranh vẽ. Tiến vào 300 km trong đất liền là Bạn đã đến được thủ đô Hà Nội.

Những công viên rợp bóng cây, hồ màu ngọc bích và những đền chùa cổ kính…Sự cổ xưa của một Châu Á tại nơi đây như đang nhìn giễu cợt vào dòng xe cộ đông đúc trên đường phố. Màn đêm buông xuống, nếu như Bạn đang đi trên xe khách hoặc sau 1 giờ (nếu như bạn đang bay trên máy bay) thì những cảnh vật này được thay thế bằng khung cảnh có một không hai của cố đô Huế cổ kính, đắm mình trong không gian hoa nở. Cách Huế 80 km là thành phố cảng Đà Nẵng – hòn ngọc biển của Việt Nam với hàng chục km trải dài cùng với bãi biển cát trắng.

Tiếp tục hành trình, chúng ta đến với miền Nam Việt Nam. Trước mắt Bạn sắp hiện ra Đô thị cổ Hội An. Thắng cảnh này sẽ thực sự khiến bạn ngạc nhiên với bản sắc Châu Á đích thực và không gian thanh bình, tĩnh tại.
Sau một vài giờ trên tàu, chào đón Bạn sẽ là thành phố biển Nha Trang. Cách 230 km về biên giới phía Nam, trước mặt Bạn sẽ hiện ra Phan Thiết với bờ biển trải dài vô tận. Tiếp tục di chuyển về phía Nam, Bạn sẽ ngã vào Sài Gòn sầm uất và náo nhiệt. Thật khó tin, nhưng chỉ sau 2 giờ đi xe từ thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà những ấn phẩm du lịch Châu Âu gọi là Paris của Châu Á, Bạn sẽ đến với vùng khá độc đáo – Miền Đông Việt Nam với sông Mekong hùng vĩ. Những con thuyền gỗ ngày cũng như đêm không ngừng nghỉ luồn lách qua nhánh của dòng sông hùng vĩ đỏ nặng phù sa khiến chúng ta nhớ đến những thước phim về những chuyến du ngoạn trên truyền dọc sông Mississippi.

Với chuyến du lịch “tốc hành”, tất nhiên chúng ta chưa thể hình dung một cách đầy đủ về nước Việt Nam giàu đẹp, nhưng nó cũng phần nào giúp cảm nhận được bản sắc và sự đa dạng đến khó tin.
Một nước Việt Nam nhiều sắc màu một lần nữa rồi lại một lần nữa đưa du khách đến với ánh sáng mới lạ của Quan Thế Âm, tượng vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt này có thể thấy ở các đền chùa trên đất nước.

MỘT GIA ĐÌNH
Người Việt Nam rất cởi mở, tình cảm, mến khách, yêu lao động và rất yêu đời. Họ luôn tự so sánh mình với cây tre non mềm dẻo, có thể uốn cong nhưng không bao giờ gục ngã. Từ xa xưa phần lớn người Việt Nam tin vào đạo Phật. Nhận thức về thời gian và cuộc sống ở Việt Nam về cơ bản khác với Châu Âu. Nếu trong văn hoá các nơi theo Kito giáo, thời gian được cảm nhận theo tuyến tính, với sự luân phiên các thành tựu cá nhân – những gai đoạn đã qua trên đường đời, thì trong văn hoá người Việt lại mang tính chu kỳ, nghĩa là kết thúc luôn là khởi đầu – ngày mới, tuần mới, mùa mới, năm mới và cuộc sống mới.

Không phải ngẫu nhiên mà hoa sen là một trong những biểu tượng thiêng liêng của Việt Nam. Theo lời người dân địa phương, khi chúng ta quan sát đầy đủ vòng đời của bông hoa sen, trên thực tế là chúng ta nhìn thấy nó tàn và sắp khô héo, nhưng bản thân bông hoa héo đó lại nghiêng so với mặt đất – đây là sự bắt đầu một cuộc sống mới vì những chồi của bông hoa mới đang căng mình đón ánh nắng mặt trời.
Đôi khi người Việt khiến ta tò mò vì thói quen luôn làm việc cùng nhau, chia sẻ những vui buồn, sướng khổ với bạn bè và người thân. Giống như những chú chim, họ chụm vào một tổ. Và điều này cũng không phải là ngẫu nhiên.
Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là thủy tổ sinh ra dân tộc Việt Nam theo truyền thuyết “bọc trăm trứng”. Trăm trứng ấy nở thành trăm người con. Năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển.

VỚI NHỮNG TIA NẮNG MẶT TRỜI ĐẦU TIÊN
Tiếng Việt với 6 thanh rất du dương và âm thanh như tiếng chim hót. Với diện tích khá khiêm tốn nhưng tiếng Việt vang lên với âm điệu rắn rỏi, rõ ràng ở thủ đô Hà Nội, khác với chất giọng địa phương ngọt ngào, êm dịu của người dân miền Trung và miền Nam Việt Nam. Vì vậy trong những trường hợp to tiếng thì người nước ngoài vẫn chỉ hiểu đây là cuộc trò chuyện xã giao giữa 2 người bạn cũ. Sự đa dạng của ngôn ngữ địa phương thể hiện rất rõ tính cách và bản sắc của người dân 3 miền – Bắc, Trung, Nam, sinh sống ở những vùng miền mà vị trí địa lý và điều kiện khí hậu hoàn toàn khác biệt.

Ở Việt Nam một ngày mới bắt đầu rất sớm. Khi bình mình vừa hé rạng, người dân đã vội vã đến các sân vận động và công viên để tập thể dục buổi sáng. Trên vỉa hè của những con phố chật hẹp những gánh phở, bánh mỳ rong và cà phê cóc đã toả ra hương vị ngọt ngào, quyến rũ, mời gọi những vị khách đang đói “ngấu nghiến”. Từ khắp các hang cùng ngõ hẻm vang lên tiếng loa phường phát tin tức buổi sáng và các bài hát. Dù Bạn ở thành phố nào trên đất nước này, cuộc dạo phố ban sáng là việc cần thiết để tìm hiểu một nền văn hoá Việt đa sắc màu cùng những nếp sống của người dân địa phương.

ĐẤU TRANH CHO SỰ HOÀN THIỆN
Việt Nam – một đất nước cổ kính ở khu vực Đông – Nam Á với 4 nghìn năm lịch sử, giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới điển hình và truyền thống đấu tranh anh dũng giành độc lập dân tộc. Theo sử sách Việt Nam, dân tộc đã trải qua 13 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Việt Nam nằm giữa 2 nền văn minh lớn của phương Đông là Trung Quốc và Ấn Độ đã tiếp nhận sự du nhập của trường phái thiền, nhưng qua các thời đại dân tộc Việt luôn gìn giữ bản sắc văn hoá và đấu tranh cho độc lập dân tộc. Văn hoá Châu Âu du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVII. Đầu tiên là các nhà truyền đạo Thiên chúa và những thương nhân, sau đó gần 100 năm Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Điều đáng nói ở đây là qua các thời đại, trong sự tiếp nhận văn hóa phương Tây, Việt Nam đã có những cải biến phù hợp với điều kiện đất nước.

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Việt Nam không những phải đấu tranh với giặc ngoại xâm, mà còn phải phòng chống thiên tai. Để đối phó với bão, lũ lụt và hạn hán người dân đã đắp đê dọc những con sông, xây hồ nhân tạo, kênh và đập thuỷ lợi. Thiên nhiên rất ưu đãi ban tặng cho Việt Nam những cảnh quan hùng vĩ. Việt Nam có 5 di sản được công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Các di sản đã được tổ chức Unesco công nhận tại Việt Nam,

Di tích lịch sử lưu niệm Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu.

Tên di sản:
Di tích lịch sử lưu niệm Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu.
Địa điểm:
Tiểu khu 11, Thị trấn Mộc Châu, Mộc Châu
Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

I. Sự kiện nhân vật lịch sử và thuộc tính của di tích

Ngày 7/5/1959, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La vinh dự và tự hào đón Bác Hồ về thăm nhân dịp kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và 4 năm thành lập khu tự trị Thái – Mèo. Chỉ một lần lên thăm nhân dân Tây Bắc, thăm Sơn La nhưng Người luôn dõi theo bước phát triển của Sơn La. Người đã để lại muôn vàn tình yêu thương trong lòng đồng bào các dân tộc Sơn La.

Thời gian qua đi, song hình ảnh và lời dặn dò ân cần tình cảm của Người vẫn mãi in đậm trong ký ức của cán bộ và nhân dân Sơn La. Điều đó được ghi lại bằng các dấu tích, các địa điểm mà Người đã đến thăm và nói chuyện với nhân dân các địa phương trong tỉnh, nay đã trở thành những di tích lịch sử quan trọng minh chứng tình cảm của Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Sơn La và tình cảm của nhân dân các dân tộc Sơn La đối với Bác Hồ kính yêu.

Địa điểm Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu là một trong những dấu tích lịch sử về chuyến thăm của Bác Hồ tại Sơn La, là nơi lưu lại tình cảm của Bác Hồ với nhân dân Mộc Châu và lòng biết ơn vô hạn của nhân dân Mộc Châu đối với Bác Hồ.

  1. Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Dinh ngày 19/5/1890 ở quê ngoại là làng Hoàng Trù; Lớn lên ở quên nội là làng Kim Liên, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An và mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thóng yêu nước chống giặc ngoại xâm, trong một thời kỳ phong trào yêu nước ở Việt Nam rất sôi nổi.

Thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với giai đoạn lịch sử vẻ vang nhất của cách mạng Việt Nam và với thời kỳ đấu tranh sôi nổi nhất của cách mạng thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc vĩ đại, lãnh tụ vô cùng kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sỹ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

Từ một người yêu nước chân chính trở thành một chiến sỹ cộng sản vĩ đại, Hồ Chủ tịch đã đem sánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin soi đường cho cách mạng Việt Nam lãnh đạo toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết lên những trang sử huy hoàng nhất của dân tộc, đưa nước nhà bước vào kỷ nghuyên độc lập, tự do và CNXH.

Người là tượng trưng của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý tưởng độc lập, tự do với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa; Giữa chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với tinh thần Quốc tế vô sản. Người đã tiếp thu, phát huy những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và kết hợp những truyền thống ấy với tư tưởng cách mạng triệt để của thời đại ngày nay, tư tưởng Chủ nghĩa Mác – Lê nin. Người đã sáng lập và lãnh đạo đảng ta, rèn luyện Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, sáng lập Mặt trận thống nhất, lực lượng vũ trang nhân dân, sáng lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và phấn đấu không mệt mỏi để góp phần tăng cường đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người luôn chăm lo rèn luyện cán bộ, đảng viên và không ngừng bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương chói lọi về tinh thần cách mạng triệt để, chí khí đấu tranh kiên cường bất khuất, toàn tâm toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng; Tận tuỵ, hi sinh, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng loài người.

Đức độ cao quý của Người là trung với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, chân thành, khiêm tốn, giản dị. Người yêu thương da diết nhân dân lao động; Gần gũi quần chúng và tin tưởng tuyệt đối vào khả năng và sức mạnh của quần chúng nhân dân. Tên tuổi của Người sống mãi trong lòng mỗi người Việt Nam yêu nước và sự nghiệp cách mạng của Người nhất định sẽ được kế tục thắng lợi.

  1. Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Mộc Châu

Trong suốt cuộc đời hoạt động của Bác mặc dù bận trăm công nghìn việc của đất nước nhưng Bác vẫn thường xuyên quan tâm chăm sóc và giành tình thương yêu tới nhân dân các dân tộc Tây Bắc. Ngay từ những ngày đầu cách mạng Bác đã gửi thư khen đồng bào: “Từ nay về sau các dân tộc đã đoàn kết càng đoàn kết hơn, đã phấn đấu càng phấn đấu hơn nữa, để giữ gìn độc lập cho vững vàng, xây dựng một nước Việt Nam mới giàu mạnh, ấm no và hạnh phúc”. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, mặc dù Bác chưa có điều kiện trực tiếp lên thăm Sơn La, nhưng Bác vẫn luôn biên thư, gửi điện thăm hỏi, khen ngợi, dõi theo từng bước đi và tiến bộ của đồng bào.

Trong bức thư gửi đồng bào nhân dịp hợp nhất hai tỉnh Sơn La và Lai Châu năm 1948 Bác viết:”Sơn Lai, tuy ở xa Chính phủ nhưng lòng Chính phủ vẫn gần Sơn Lai”. Người còn gửi tặng đồng bào với lời dạy: “Thi đua thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, trí công vô tư”.

Ngày 1/1/1952, Bác gửi thư cho cán bộ, chiến sỹ Tây Bắc, Bác nhắc nhở “Chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch rất quan trọng” Bác thường xuyên sát sao tình hình chiến sự, kịp thời động viên quân và dân Tây Bắc.

Sau ngày hoà bình lập lại Bác nhiều lần gửi thư thăm hỏi đồng bào Sơn La, khuyên răn đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, thường xuyên giúp đỡ nhau như anh em một nhà, thi đua tăng gia sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ biên giới, cảnh giác, sẵn sàng giúp đỡ bộ đội, công an chống mọi âm mưu của địch. Thư nào Bác cũng không quên gởi lời hỏi thăm các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên nhi đồng. Trong các hội nghị có các bộ dân tộc về dự, Bác luôn giành thời gian gặp gỡ, trò chuyện, thăm hỏi đồng bào. Đáp lại tình cảm, sự quan tâm đặc biệt của Bác, nhân dân các dân tộc Sơn Lai đoàn kết, chung sức xây dựng quê hương và bảo vệ vững chắc vùng đất phía Tây Bắc của Tổ quốc.

Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu. Với khí thế chiến thắng, với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Cùng với quân và dân cả nước, nhân dân các dân tộc Sơn La hăng hái bắt tay vào khôi phục kinh tế, thi đua sản xuất, sáng tạo cần cù lao động, quyết tâm vượt qua mọi thử thách xây dựng lại quê hương Sơn Lai và mơ ước được đón Bác lên thăm để chứng kiến sự đổi mới của đồng bào các dân tộc.

Ngày 7 –  5 – 1959, nhân dịp kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và kỷ niệm 4 năm thành lập khu tự trị Thái – Mèo, Bác Hồ cùng đoàn đại biểu CHính phủ đã lên thăm nhân dân các dân tộc Sơn La. Cả Sơn La đỏ rực cờ hoa, biểu ngữ, giăng khắp nẻo. Hơn một vạn đồng bào các dân tộc, bộ đội, cán bộ, công nhân, các cháu thiếu niên nhi đồng đại diện cho hơn 30 dân tộc trong khu dự mít tinh lớn diễn ra tại Kỳ đài Thuận Châu chào mừng Bác Hồ cùng đoàn đại biểu Chính Phủ.

Trong không khí ấm áp của đại gia đình các dân tộc, Bác thân mật nói chuyện với đồng bào. Bác thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi những thành tích của quân và dân Tây Bắc, Bác đại diện cho nhân dân thủ đô Hà Nội trao cho nhân dân các dân tộc khu Tự trị bức trướng mang dòng chữ “Đoàn kết – Thi đua – Thắng lợi” được thêu bằng hai thứ chữ: Chữ Việt và chữ Thái. Giữa tiếng hô “Pú Hồ xen pi” (Bác Hồ muôn năm) Bác trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho toàn thể quân, dân, chính, Đảng khu Tự trị Thái – Mèo về những thành tích trong kháng chiến và những tiến bộ trong hoà bình.

Đồng chí Lò Văn Hặc, Chủ tịch khu Tự trị Thái – Mèo thay mặt nhân dân các dân tộc trong khu đọc diễn văn chào mừng Bác cùng đoàn đại biểu Chính phủ, cán bộ, nhân dân, các em thiếu niên nhi đồng phấn khởi vui mừng đón Bác, dâng lên những sản phẩm địa phương do chính bàn tay lao động sáng tạo của bà con, từ những thứ rất bình dị như: Rau, quả, gà, vịt, đôi đũa, chiếc chiếu, chiếc gối, vải thổ cẩm, ngà voi,… Bác thân mật nói chuyện với các đại biểu phụ nữ các dân tộc, các cháu thiếu nhi, xem đoàn văn công biểu diễn.

Mặc dù chuyến thăm Tây Bắc của Bác không dài nhưng Bác vẫn giành thời gian viếng Nghĩa trang liệt sĩ Nhà tù Sơn La, Bác thăm và nói chuyện với đồng bào huyện Mộc Châu, Mai Sơn và Mường La.

Ngày 8 – 5 – 1959, sau khi thăm huyện Yên Châu. Bác đã đến thăm và nói chuyện với nhân dân các dân tộc Mộc Châu. Tại sân vận động Uỷ ban hành chính huyện, từ 5h sáng tất cả các ngả đường, cán bộ, bộ đội, công nhân, học sinh ăn mặc quần áo đẹp nhất, ai cũng mang theo cờ hoa, biểu ngữ đi đón Bác. Theo lời kể của cô giáo Phan Thị Lý nguyên là giáo viên trường Tiểu học Mường Sang (Mộc Châu) (Người được giao nhiệm vụ đưa các em học sinh Mường Sang đi đóng Bác: Trong đó tốp học sinh tiêu biểu được chọn trong đội dâng hoa đón Bác có: Ngô Thị Tuyết Lâm, Lữ Thị Xuyến, Nguyễn Văn Thắng, Hà Văn Bến, Lường Văn Kít, Lò Thị Tắm lúc đó là học sinh cấp I trường Mường Sang).

Thời tiết hôm đó trời nắng to, gió lộng. Nơi đón đoàn cán bộ Chính phủ được tổ chức tại khu làm việc của Uỷ ban hành chính huyện (Nay thuộc Tiểu khu 11 thị trấn Mộc Châu), kỳ đài được kê cao bằng gỗ ván, có trang trí các khẩu hiệu, cờ, phông rực rỡ “Đảng Lao động Việt Nam”, “Ra sức thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch để chào mừng Bác Hồ lên thăm Tây Bắc”.

Khoảng 9h30 sáng ngày 8 – 5 – 1959, niềm hạnh phúc lớn lao và giây phút thiêng liêng ấy đã đến. Rừng người, rừng cờ sôi động hẳn lên khi thấy đoàn xe con xuất hiện. Những tràng pháo tay vang lên không ngớt khi Bác Hồ từ trên xe bước xuống tiến về kỳ đài. Mọi người rưng rưng nước mắt xúc động vừa vỗ tay vừa hô to “Bác Hồ muôn năm, Bác Hồ muôn năm”,  Bác giơ tay vẫy chào mọi người rồi đi nhanh lên kỳ đài. Sau lời giới thiệu của các đồng chí lãnh đạo huyện, Bác ân cần thăm hỏi sức khoẻ của cán bộ, nhân dân và thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh, Bác đã ân cần dặn dò cán bộ, nhân dân Mộc Châu:  Tây Bắc có vị trí rất quan trọng, trong đó Mộc Châu là cửa ngõ của Tây Bắc, Mộc Châu phải phấn đấu xây dựng Mộc Châu phát triển hơn nữa. Muốn vậy, cán bộ và nhân dân các dân tộc Mộc Châu phải: Đoàn kết các dân tộc, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục và chăm lo sức khoẻ cho nhân dân.

Bác nói rất nhanh nhưng rõ ràng, cụ thể, sau đó Bác đi xuống bắt tay các cụ già và ân cần thăm hỏi sức khoẻ. Bác đến chỗ có các cháu học sinh đại diện cho con em đồng bào các dân tộc trong huyện đang đứng dưới kỳ đài đón Bác, đến gần các cháu học sinh Bác nói: Thầy cô giáo của các cháu đâu?cô giáo Phan Thị Lý đứng cạnh đó liền bước đến bên Bác và trả lời: Thưa Bác cháu là cô giáo của các em đây ạ! Bác Hồ bắt tay cô giáo và nói: Cháu lên lâu chưa? Thưa Bác cháu mới lên ạ! Cháu dạy học ở đây có thấy khó khăn không? Thưa Bác có ạ! bởi vì ngôn ngữ bất đông, cháu chưa hiểu tiếng dân tộc.  Nghe cô giáo trả lời xong Bác ân cần nói với cô giáo: Cháu phải học nói tiếng dân tộc để khi giảng dạy nếu học sinh không hiểu tiếng phổ thông thì mình nói luôn tiếng dân tộc học sinh sẽ hiểu ngay. Bác nói tiếp: Quê cháu ở đâu? Thưa Bác quê cháu ở Hà Nội ạ! Bác lại hỏi: Lên đây có thấy khổ không? Thưa Bắc chắc dần cháu cũng quen ạ. (Theo lời kể của cô giáo Phan Thị Lý – nguyên là giáo viên có mặt tại buổi đón Bác Hồ đến thăm Mộc Châu tại Uỷ ban hành chính huyện Mộc Châu).

Với phong cách giản dị, với lời so sánh dễ hiểu, tình cảm giữa lãnh tụ và nhân dân, các thầy cô giáo các em học sinh đã trở nên gần gũi, thân thiết. Bác đi đến từng hàng các em học sinh nhẹ nhàng căn dặn: Các cháu phải cố gắng chăm ngoan học thật giỏi vâng lời thầy cô, tương lai của đất nước phụ thuộc vào các cháu. Học sinh miền xuôi cũng như miền ngược đều là con, là cháu của Bác, phải thương yêu lấy nhau, đoàn kết học tập lẫn nhau coi nhau như anh em một nhà và cùng nhau xây dựng quê hương. (Theo lời kể của các nhân chứng lịch sử nguyên là học sinh lớp 3 Trường Mường Sang (Mộc Châu)).

Kết thúc buổi mít tinh, Bác bắt nhịp cho toàn thể cán bộ, nhân dân, các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh hát bài “Kết đoàn”.

Ngày 8 – 5 – 1959, đã thực sự trở thành một mốc son lịch sử, một kỷ niệm sâu sắc trong đời sống của nhân dân các dân tộc Mộc Châu. Nơi Bác Hồ đứng nói chuyện với cán bộ, nhân dân vẫn còn đây, hình ảnh và những lời dặn dò chỉ bảo ân cần của Bác mãi còn in đậm trong lòng cán bộ, nhân dân, các thầy cô giáo và các em học sinh Mộc Châu đó là niềm cổ vũ lớn lai đối với Đảng bộ, chính quyền, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thực hiện triệt để chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đưa Mộc Châu vững bước tiến lên.

Cảm động trước tình yêu thương và sự quan tâm sâu sắc của Bác ai cũng ghi lòng tạc dạ những lời dạy bảo quý báu của Bác thầm hứa quyết tâm thực hiện bằng được những điều Bác mong.

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội sau hai mươi năm đổi mới Mộc Châu đã có những bước trưởng thành toàn diện về mọi mặt: Kinh tế – Văn hoá – An ninh quốc phòng.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu quyết tâm xây dựng quê hương phát triển ngày càng giàu mạnh.

II. Loại hình di tích

Di tích Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu là loại hình di tích lưu niệm sự kiện lịch sử. Tại nơi đây đã đánh dấu một sự kiện lịch sử quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Chính phủ lên thăm nhân dân các dân tộc Mộc Châu, Chủ tịch đã nói chuyện với cán bộ, nhân dân các dân tộc Mộc Châu vào hồi 10h đến 11h ngày 8 – 5 – 1959

III. Giá trị lịch sử của di tích

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử của dân tộc và nhân loại trong thế kỷ XX không chỉ với tư cách là một anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, mà còn tồn tại trong tâm khảm các thế hệ người Việt Nam nhưu một vị thánh hiền.

Sự gìn giữ, chỉnh trang và khai thác các di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thần nhằm tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho công dân, góp phần xây dựng nền văn hoá mới mà còn đáp ứng đòi hỏi tình cảm của đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam hiện nay.

Toàn bộ di sản Người để lại cho chúng ta là vô giá vì vậy các di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là chứng tích lịch sử về lãnh tụ của dân tộc sẽ là cầu nối chuyển tải tới chúng ta những tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người trong qua giá trị lịch sử, Văn hoá ẩn chứa tại di tích.

Sự tôn vinh các di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu mà còn là sự đòi hỏi của xã hội trong thời kỳ đổi mới; Nhằm thực hiện mục tiêu văn hoá của Đảng, làm điểm tựa cho đất nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Việc bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh không đơn giản chỉ mang ý nghĩa chính trị thời sự mà còn mang tầm chiến lược, bởi đây chính là nguồn gốc nội lực chấn hưng đất nước.

Di tích Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu là một di tích về sự kiện lịch sử Bác Hồ lên thăm và làm việc với nhân dân các dân tộc khu Tự trị Thái – Mèo nói chung và nhân dân các dân tộc Mộc Châu nói riêng, nó đánh dấu một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng, là một chứng tích lịch sử về lãnh tụ của dân tộc sẽ là cầu nối chuyển tải tới chúng ta những bài học về tư tưởng đạo đức, tác phong, lối sống của Bác thông qua những giá trị lịch sử ẩn chứa trong di tích về bác. Góp phần định hướng giáo dục con người vươn lên trong cuộc sống, xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Vì vật việc bảo tồn phát huy thế mạnh ở các di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội ở Sơn La nói chung và Mộc Châu nói riêng.

Đây là nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ tương lai của tỉnh nhà và cũng thể hiện lòng tôn kính đối với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như là tình cảm, tình thương yêu bao la của cán bộ, nhân dân các dân tộc Mộc Châu nói riêng và nhân dân các dân tộc Sơn La nói chung đối với Bác.

Thác Dải yếm

Tên di sản:

Thác Dải yếm

Địa điểm:

Vặt, Xã Mường Sang, Mộc Châu

Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

1. Tên gọi

       Tên thường dùng: Thác Dải Yếm

       Tên địa phương: Thác Ta Lét: Trươn tuột, trơn trượt

                                       Thác nước bản Vặt

      Các dòng tạo nên thác dải yếm:

           * Suối Vặt được tạo bởi dòng nước từ khe Bó Co Lắm và Bó Tá Cháu

          – Dòng suối thứ nhất chảy từ Bó Co Lắm (Mó nước này ngày xưa có cây đa to gọi là co lắm)

          – Dòng suối thứ hai chảy từ  khe Bó Tá Cháu (Nước mó sạch dùng để lấy nước về chùa Vặt Hồng tắm cho tượng phật)

          – Thác còn được tạo bởi từ dòng suối Huổi Lùn (Suối chảy qua bản Lùn)

2. Địa điểm và đường đi đến di tích

           Di tích danh lam thắng cảnh Thác Dải Yếm thuộc bản Vặt xã Mường Sang, tỉnh Sơn La. Du khách đến thác Dải Yếm đi theo hai hướng: Từ trung tâm huyện lỵ hướng Hà Nội Sơn La theo quốc lộ 6 lên Thành phố Sơn La 3km tới ngã ba Lóng Sập rẽ trái đi đường 43 khoảng 5km là tới di tích.

          Từ trung tâm huyện lỵ Mộc Châu hướng Sơn La Hà Nội khoảng 1km tới ngã ba đường đi Lóng Sập theo hướng tay phải đường 43 đi khoảng 5km là tới di tích. Đường đến di tích rất thuận lợi du khách có thể đi bằng mọi phương tiện xe máy, xe ô tô. Hai bên đường cảnh quan thiên nhiên và khu dân cư rất đẹp, đường trải nhựa uốn theo các sườn đồi với mầu xanh của ngô, lúa. Đặc biệt đây là con đường biên giới Việt Lào với 33km là sang nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích.

          Mộc Châu với tên gọi thân thương chính thức có từ thời nhà Lê (Thế kỷ XV) là cửa ngõ của tỉnh Sơn La, thuộc địa hình núi cao của miền Tây Bắc. Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình là 1.150-1.300m so với mặt nước biển, trong đó núi đá vôi của Mộc châu có độ cao trung bình từ 1.050m. Mộc Châu là miền đất có địa hình catxtơ, hệ thống núi đá vôi trùng điệp ôm lấy những quả đồi lớn nhỏ như những chiếc bát úp khổng lồ nằm gối kề nhau chạy theo hướng tây bắc đông nam, xen lẫn các vùng cao nguyên rộng lớn là những vùng bình nguyên,lòng chảo, những khe suối sâu, vực thẳm làm cho địa hình Mộc Châu trở nên đa dạng. Với kiểu hình núi đá vôi tạo cho Mộc Châu có nhiều hệ thống hang động, thác nước cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ và ở độ cao như vậy nên Mộc Châu là vùng có khí hậu mát mẻ rất tốt cho sức khoẻ của con người, động, thực vật. Mộc Châu là vùng đất có lịch sử lâu đời, có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống: Thái, Mông, Mường, Kinh, nuôi cải thiện đời sống. có nền văn hoá mang đậm bản sắc tộc người. Trong suốt tiến trình lịch sử các dân tộc Mộc Châu đã có những đóng góp to lớn trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, Ngày nay truyền thống đó đã và đang được phát huy trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Trong văn hoá tinh thần, nghệ thuật dân gian được thể hiện qua các câu chuyện, những làn điệu dân ca, những tác phẩm nghệ thuật,điệu xoè, câu ca dao tục ngữ, các lễ hội xên bản, xên mường, lễ hội cầu mưa… Mỗi dân tộc đều có kho tàng văn học nghệ thuật riêng chứa đựng những tâm tư tình cảm nhận thức của họ về tự nhiên, xã hội và con người cũng như tài năng sáng tạo văn hoá trong lịch sử tộc người.

          Mộc Châu xưa, tên tiếng thái gọi là Mường Sang. Người thái ở Mộc Châu là một nhóm thái di cư từ Lào sang khoảng thế kỷ XIV. Có một câu chuyện kể về sự thiên di của người thái từ Lào sang đất Mường Sang” …Ngày xưa vua đất Viên Chăn sinh được người con trai đặt tên là Pa Nha Nhọt Chom Cằm. Chàng trai khi lớn lên thường ngày ra sông Nậm Khoong tắm (Sông Mê Công) tình cờ một hôm chàng lấy được một hòn đất quý có nhiều mầu sắc đêm về làm vật bảo bối. Khi chàng trai trưởng thành Pa Nhọt Chom Cằm được phép của vua cha cho đi tìm đất mới để lập bản, lập mường, cùng đi với chàng có nhiều tướng lĩnh binh sỹ và dân bản. trước khi lên đường vua cha trao cho đoàn quân của Pa Nhọt Chom Cằm 800 cây mác đồng đỏ với hàng chục con voi chiến và nhiều lương thực, thực phẩm. Chàng mang theo hòn đá quý trong người, chàng bắt đầu khởi quân từ vùng đất Viên chăn đi về Mường Thanh (Điện Biên) xuống Mường Húa (Tuần Giáo) lên Mường So (Phong Thổ), Mường Là (Thuộc Vân Nam Trung Quốc).Chàng lại tiếp tục kéo quân về mạn sông Hồng đến mường Mả, Mường Sát Cam Đường (Lai Châu) đoàn người lại xuôi về Mường Cúc, Mường Át

           (Phú Thọ) điểm cuối cùng đoàn dừng chân ở Hoà Bình. Với danh nghĩa đoàn sứ giả của vua Lào, đoàn Pa Nhọt Chom Cằm đi đến đâu cũng được nhân dân ủng hộ và đón tiếp rất chu đáo. Không ngờ hòn đá quý của Pha Nha Nhọt Chom Cằm mang theo cứ ngày một lớn, khi đến đất Mường Mùn(Mai Châu- Hoà Bình) thì hòn đá đó đã phải dùng tới Tám người nghiêng mới có thể tiết tục đem đi được. Khi tới đất Phiêng Luông (Mộc Châu), hòn đá bỗng thốt lên” Chỗ đất này tốt” (Trong tiếng thái tốt là đi) Pha Nha Nhọt Chom Cằm)đặt tên cho vùng đất đó là Chiềng Đi. Đoàn lại tiếp tục khiêng hòn đá qua núi Kèm Cọ, đến một bãi bằng  đá lại nói” Cho tôi xuống đây” tiếng thái gọi là (Khỏi Chi Lống) chiều theo ý đá Pha Nha Nhọt Chom Cằm bền đặt hòn đá ở đó và đặt tên hòn đá là Chi Lống (Chi Lống được phiên âm thành Chờ Lồng) hòn đá được mang tên là “sửa hin lái” (với ý nghía là hồn mường có màu sặc sỡ). Từ đấy đất Chi Lống làm nơi trú ngụ của “hồn Mường” (Mường Sang).

          Qua nghiên cứu, khảo sát thực tế tại di tích và theo lời kể của nhân dân địa phương, thác Dải Yếm được gắn  với hai câu chuyện truyền thuyết.

          – Câu chuyện tình hữu nghị Việt – Lào ở vùng biên giới Tây bắc

          –  Câu chuyện Quá trình kiến tạo địa chất của vùng đất Mộc Châu

          Thác dải Yếm nằm tại trung tâm bản Vặt, xã Mường Sang, Mộc Châu, tỉnh Sơn La, trên trục đường Quốc Lộ 43 đi cửa khẩu Lóng Sập sang nước CHDCND Lào.

          Câu chuyện thứ nhất; “Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa không ai còn nhớ ngày, nhớ năm, vùng đất này còn vô cùng hoang sơ, núi cao sừng sững, rừng bạt ngàn cây cối, muông thú đầy rừng

          Chủ nhân vùng đất này là một vài xóm nhỏ của dân tộc Thái, Xá. Nguồn sinh sống của họ chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm nhặt quả trong rừng, bắt cua, cá dưới suối. Cuộc sống tuy vất vả nhưng họ sống với nhau đầm ấm và hạnh phúc. Ngày đó bên nước bạn Lào có quân giặc từ phương bắc tràn xuống, cướp của, bắn giết dân lành tại các bản mường, hai nước sẵn có truyền thống hữu nghị từ lâu đời, thanh niên trai tráng ở bản Vặt hăng hái tòng quân sang giúp Lào đánh giặc. Ở bản Vặt lúc đó có một đôi trai giá rất yêu nhau, nhưng chàng trai phải tạm biệt cô gái lên đường cùng các chàng trai khác trong bản đi đánh giặc. Ngày chia tay, cô gái tiễn người yêu tới núi Pú Hạng Méo (nơi bé như đuôi con Mèo trên đường quốc lộ 43), tới đây cô gái nói với chàng trai: “Anh đi đánh giặc xong sẽ trở về với em, chúng ta sẽ chờ và đón nhau tại đỉnh của dòng thác này, nếu anh hi sinh em sẽ biến thành con ếch ở ruộng Nai Sa nhìn về phía anh đi. Chàng trai dặn cô gái anh đi đánh giặc xong sẽ trở về đỉnh dòng thác này, chúng mình sẽ cưới nhau. Họ chia tay nhau chỉ có dòng thác chứng kiến cùng với tiếng thác nước rì rầm hoà cùng tiếng xào xạc của rừng cây, tiếng chim hót líu lo như tiếp nối lời ca tiếng đàn của sơn nữ xinh đẹp thuỷ chung. Chàng trai đi đánh giặc cô gái trở về bản sớm hôm tần tảo ruộng vườn. Nhiều mùa trăng đã trôi qua, các chàng trai ở bản lần lượt trở về duy chỉ có chàng trai là người yêu cô gái không về, thời gian trôi đi hết ngày này qua ngày khác mà người chẳng thấy về, chiều nào cũng vậy khi xong việc nhà hoàng hôn buôn xuống cô gái lại ra thác nước nơi hai người hẹn hò nên duyên vợ chồng xoã tóc xuống dòng nước tắm ngóng chờ người yêu với niềm hy vọng. Nhân dân trong bản rất yêu thương và lo sức khoẻ cho cô, nhiều chàng trai trong bản đem lòng yêu thương muốn lấy cô về làm vợ, nhưng cô cương quyết từ chối chờ đợi chàng. Một hôm trời đổ cơn giông, gió ào ào thổi, mây đen kéo đến phủ kín cả bầu trời, trời đất tối đen như mực sống chớp ầm ầm, trời bắt đầu mưa to, nước dâng ngập cả một vùng. Ngày hôm sau nước rút, dân bản đi tìm cô gái nhưng không thấy chỉ tìm được một dải lụa mà cô gái thường dùng hàng ngày vương trên cành cây trên đỉnh thác ,xem kỹ dải lụa có thêu tên của cô gái và chàng trai. Xúc động trước tình yêu và lòng chung thuỷ của cô gái đối với chàng trai. Từ đó bà con trong bản đặt tên cho thác là thác Dải yếm. Nhất là khi đứng từ Pú Hạng Méo nơi cô gái và chàng trai chia tay nhìn về dòng thác ta sẽ thấy dòng thác tựa như một dải lụa mềm mại, mái tóc dài óng mượt thơ mộng được gắn lên mối tình thuỷ chung bi tráng.

          * Câu chuyện thứ hai: “Thưở ấy đã lâu lắm rồi, vùng đất này còn vô cùng hoang sơ, rừng bạt ngàn cây cối, muông thú đầy rừng. dân tộc ở đây là bản làng nhỏ bé gồm dân tộc thái, xá.. nguồn sống chính của họ là hái lượm, một ngày đẹp trời mọi người trong xóm nhỏ toả vào các cánh rừng để kiếm sống.trong đó có chàng trai và cô gái ở hai gia đình rất thân nhau, cả hai đang ở độ tuổi trăng tròn cũng vào rừng để kiếm sống như mọi người khác. Cảnh vật nơi đây thật là tuyệt đẹp dưới chân họ là cánh rừng và dòng suối trong vắt , trên đầu họ là rừng xanh và mây trắng lững lờ trôi, hai bên bờ suối từng đàn bướm với đủ màu sắc rực rỡ bay lượn dập dờn, lá cây lay động khi làn gió thổi qua, tất cả những thứ đó hoài quyện vào nhau tạo cho nơi đây một cảnh đẹp thiên thần.

          Bất chợt gió ào ào thổi, mây đen kéo đến phủ kín cả bầu trời đất trời tối đen như mực báo hiệu một trận đại hồng thuỷ sắp đổ xuống nơi này. Quả nhiên, bầu trời đen kịt như bị xé rách bởi tiếng sấm ầm ầm và chớp lóe lên nhằng nhịt. Một thác nước từ trên trời bỗng đổ ập xuống nơi này, mưa rất to, trời đất vẫn tối sầm, sét đánh ngang dọc bầu trời mưa vẫn tiếp tục đổ xuống ngày một to hơn, cả vùng đất này như biển nước mênh mông. Chàng trai và cô gái cũng như các người dân khác đang kiếm ăn trong rừng thấy trời mưa  họ tìm một nơi trú ẩn cho mình, không ngờ trời mưa quá to, nước mỗi ngày càng dâng cao hơn nữa mọi người ai cũng đều lo sợ. Đột nhiên mặt đất rùng rùng chuyển động như trời long đất lở đất bỗng toác ra, sụp xuống thành một khe rất sâu kéo dọc theo sườn núi cả một vùng bị nước dâng đầy như biển cả tạo thành một dòng nước chảy xiết hung dữ.

          Chàng trai và cô gái cũng chọn chung số phận như những người khác trong vùng bị gập nước, tất cả đều bị cuốn trôi theo dòng nước xiết đang chảy về phía miệng vực, mọi người đều tuyệt vọng, họ kêu cứu và cầu mong có một ai đó đến cứu họ thoát chết. Càng gần đến miệng vực sâu, nước chảy càng mạnh hơn, miệng vực há ra như muốn nuốt chửng mọi thứ, chàng trai và cô gái cũng cùng chung số phận như những người khác nhưng may mắn hơn họ bị nước cuốn dạt sang một dòng chảy khác, khi bị nước cuốn đến khu vực bản Vặt họ bám vào một cành cây cổ thụ cả hai người cùng trèo lên cây nhìn và thương xót cho mọi người đang bị nước cuốn trôi về phía vực thẳm, dưới chân thác là một đám dây và cây rừng dày đặc giăng ngang như một chiếc võng để họ bám vào không bị nước cuốn sâu xuống dòng suối hung dữ đang ào ào chảy xiết.Trời bắt đầu tạnh, nước rút dần, chàng trai và cô gái xuống mặt đất đi về phía khe đất nứt để xem có còn ai sống xót không, họ vừa đi vừa gọi hy vọng còn ai đó cũng may mắn như họ, văng vẳng gần thác có tiếng người kêu cứu cả hai vội vã chạy đến, họ thấy một nhóm người đang bám víu lơ lửng trong đám dây và cây rừng gần đáy thác nước. Trên đỉnh thác nước vẫn chảy xiết. đá và đất lở xuống tạo thành đáy thác rất sâu và, độ dốc gần như thẳng đứng nên mọi người không có cách gì bám để trèo lên được. Chàng trai và cô gái tìm dây rừng để thả xuống cứu họ lên nhưng tất  cả đều bị cuốn trôi, chàng trai đang tìm cách cứu mọi người. Chợt nghe cô gái kêu lên” Tìm được cách rồi”, cô thả mái tóc dài đen mượt của mình xuống thác để cứu dân bản, nhưng những sợi tóc của cô không đủ dài để cứu được họ cô phải lấy thêm dải thắt lưng nối vào. Nhờ có những sợi tóc và dải thắt lưng bện vào nhau thành một dây dài thả xuống thác và mọi người đã được cứu lên đỉnh thác.

          Chính nơi có mặt đất nứt ra tạo thành một vực sâu rộng như ngày nay đã trở thành một thác nước rất đẹp. Để cảm ơn cô gái và chàng trai dân bản cùng nhau tát thành cho họ thành đôi vợ chồng, họ sống với nhau rất hạnh phúc, sinh con đẻ cái và thành lập nên bản, tụ họp con cháu sống ở nơi cây to mà họ may mắn bám vào không bị nước cuốn trôi từ đó họ đặt tên bản là Vặt, tên  bản Vặt xuất hiện từ đó, nghĩa là nơi người đã cứu dân trong vùng khỏi một tai hoạ lớn. Từ đó thác nước mang tên là thác nước bản Vặt, thác nàng, thác Dải yếm”

4. Loại hình

            Di tích danh lam thắng cảnh

5. Sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng liên quan đến di tích

           Bản Vặt, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn la, nơi đây  còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể đặc sắc của dân tộc nuôi dưỡng và bảo tồn cho đến ngày nay.

           Lễ hội “Xên bản” bản Vặt, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thường được tổ chức vào ngày 29/8 đến ngày 1/9 hàng năm. Nhằm tôn vinh các hoạt động văn hoá dân gian, những nét đẹp văn hoá tiêu biểu nhất, những sản phẩm văn hoá có giá trị, những làn điệu dân ca, điệu múa dân gian và các loại hình nghệ thuật, hoạt động văn hoá cộng đồng, những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc đồng thời khẳng định những nét đẹp văn hoá từ bao đời của nhân dân các dân tộc Mộc Châu. Qua hoạt động lễ hội “Xên bản” du lịch Thác Dải Yếm xã Mường Sang góp phần tích cực vào việc sưu tầm, khai thác bảo tồn giới thiệu những giá trị văn hoá lịch sử của các dân tộc, là dịp nhân dân các dân tộc trong huyện gặp gỡ giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, thông qua đó tuyên truyền tới mọi người dân phát huy nội lực năng động, sáng tạo đoàn kết một lòng tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng huyện Mộc Châu phát triển bền vững. Yêu cầu của lễ hoọi phải nghiêm túc trang trọng không phô trương tạo ra nét đẹp văn hoá, không khí viu tươi phấn khởi, đoàn kết tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của nhà nước. Tổ chức lễ hội phải thu hút được khách trung Ương, khách địa phương và các khách du lịch, gây ấn tượng tốt với nhân dân các dân tộc trong tỉnh, huyện, xã và đặc biệt giữ gìn lễ nghi cơ bản của lễ hội. Đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội và vệ vệ sinh môi trường. Các đối tượng tham gia là nghệ nhân, diễn viên quần chúng của xã, không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác, thành phần, chức vụ. Nhân vật thầy mo- chủ lễ phải chọn người có hiểu biết và có uy tín trong vùng, thành phần tham dự gồm các đại biểu và nhân dân.

          * Công tác chuẩn bị: Phân công cho các thành viên trong ban tổ chức, chuẩn bị làm ba sàn tre, hai cột lắc mương; các món ẩm thực: Cá, thịt nướng…10 đôi đũa, 10 cái chén, hai bát nước lã, 01 bất gạo, 01 địa muối, 02 ép xôi, 02 kiếm, vải thổ cẩm, vòng bạc và một kiệu mô hình nhà sàn đồng thời mời nghệ nhân biết làm các loại dụng cụ dân tộc, nhạc cụ, dệt thổ cẩm, đan lát… để trình diễn trong các  ngày của lễ hội và phục vụ khách tham quan du lịch.

          *Lễ hội gồm hai phần chính:

           + Phần lễ: Lễ rước bắt đầu từ 8h sáng, địa điểm xuất phát từ di tích chùa Vặt Hồng tới thác Dải Yếm. đi đầu là hai thanh niên cầm kiếm được buộc chỉ xanh, chỉ đỏ mặc quần áo đen dân tộc thái, lưng thắt khăn thổ cẩm mầu đỏ, đầu quấn khăn đen vừa đi vừa múa kiếm,tiếp theo là hai thanh niên cầm cờ tổ quốc và cờ hội, bốn thanh niên khiêng kiệu mô hình nhà sàn có bọc giấy xanh, đỏ , tím. vàng. Ông mo, bà Một mặc áo dài dân tộc Thái  vừa đi, vừa cúng ra địa điểm tổ chức lễ hội “xên Phi bản phi mương”(Cúng ma bản, ma mường). Phần lễ phải chọn được một cô gái xinh đẹp, khoẻ mạnh nhất trong bản, hai tay nâng bộ áo của thầy mo mầu đỏ, đội trống chiêng vừa đi vừa đánh trống theo nhạc xoè. Đặc biệt trong lễ hội phải có một con trâu đen khoảng 3-4 năm tuổi béo khoẻ được tắm rửa sạch sẽ, sừng bọc giấy bạc óng ánh, trán và mông dán giấy trắng cắt hình hoa ban. đi sau là các ông bà già trong bản mặc trang phục dân tộc và các tổ chức đoàn thể, đàn ông đeo kiếm hoặc dao, phụ nữ cầm cờ , hoa…

           Khi lễ chuẩn bi xong ông Mo bắt đầu cúng, Nội dung lời cúng như sau:

Cầu cho bản Mường yên vui

Trong năm mưa thuận gió hoà

Mùa màng bội thu

Lành ở, dữ đi, nhà nhà yên vui

Người già, con trẻ được mạnh khoẻ

Thanh niên ngoan hiền, chăm chỉ làm ăn

Nhân dân được ấm no, hạnh phúc

Đất nước được giầu mạnh vững bền

          Khi cúng xong ông mo ra hiệu cho hai thanh niên chuẩn bị làm thủ tục hoá kiếp cho con trâu, sau khi hai thanh niên trở về trên tay cầm chậu tiết trâu đặt lên sàn. Ông Mo lấy chiếc áo đỏ nộp lại cho ông chủ mường và lấy sợi chỉ đen buộc vào cổ tay ông chủ mường và nói: “ Khắp sại bán nhá lương, khắp sại mương nhá sau có nghĩa: “Chúc ông giữ Mường đừng để mường úa, nắm dây mường đừng để mường tàn, khoẻ như nai đỏ, chắc như voi đang độ”. Cuối cùng ông Mo, bà Một, ông chủ mường cùng uống rượi vui vẻ hát, múa xoè”

        + Phần hội:

        Tại lễ hội diễn ra nhiều các hình thức: Thi nấu món ăn dân tộc, chơi ném còn, bắn nỏ, văn nghệ…. Sau khi thi xong ông Mo mời các đại biểu vào mân để thưởng thức các món ăn như vậy gọi là ăn lấy may, lấy lộc. Tiếp theo đó ông Mo ra hiệu nổi trống chiêng và mời mọi người cùng khách du lịch tham dự vòng xoè, cứ như vậy phần hội kéo dài cho đến hết ngày.

6. Khảo tả di tích

          Bản Vặt xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La có lịch sử từ  lâu đời, theo sử sách ghi lại thì Mường Sang trước kia được hình thành thời Lê sơ. Tháng 5/1998 Mường Sang được tách thành 2 xã Đông Sang và Mường Sang. Xã Mường Sang hiện nay có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống: Thái, Kinh, Mông, Mường chia làm 10 bản và hai tiểu khu, dân số 1.343 người, chủ yếu đồng bào sản xuất bằng nông nghiệp. Là một xã nằm ở phía Bắc thị trấn Mộc Châu, phía đông giáp xã Đông Sang, phía nam giáp xã Lóng Sập, phía Tây giáp xã Chiềng Khừa, phía Bắc giáp xã Chiềng Hặc. Khí hậu mùa hè mát mẻ, mùa Đông giá lạnh, địa hình xã Mường Sang nằm giữa thung lũng đá vôi, có diện tích 9.074ha.

           Dưới chế độ thực dân phong kiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, chủ yếu phụ thuộc vào nương rẫy, săn bắn, hái lượm, kinh tế thiếu thốn quanh năm. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ nhân dân các dân tộc Mường Sang đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Từ khi đất nước được độc lập, kinh tế, văn hoá xã hội ngày càng được phát triển đặc biệt là trong những năm thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, đồng bào đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, sử dụng các giống lúa mới, cuộc sống của người dân trong bản được đổi mới trong mọi lĩnh vực. Con người và mảnh đất nơi đây luôn giữ được ý thức đoàn kết dân tộc, tự hào truyền thống lịch sử của cha ông. Thế hệ các cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Mường sang hôm nay và mai sau mãi mãi xứng đáng với truyền thống yêu nước, bất khuất tự lực tự cường của các thế hệ đi trước đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng mảnh đất Mường Sang ngày càng vững mạnh, bảo vệ vùng biên giới an toàn, hữu nghị. Những tài nguyên, thiên nhiên phong phú nơi đây sẽ thành khu du lịch nổi tiếng của xã Mường sang nói riêng và huyện  Mộc Châu nói chung. Theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, thời Lê Sơ Mường Sang là tên gọi cổ xưa nhất của vùng đất Mộc Châu, Mường Sang còn gọi là “Mường Mok” (tức là Mường có nhiều mây mù phủ quanh năm), có giả thiết cho rằng, Mường Sang là tên phát âm chệch của Mường Khang nghĩa là Mường gang thép, sau này Mường Khang chuyển âm thành Mường Sang. Bên cạnh thác Dải Yếm còn có Chùa Vạt Hồng cách khoảng 600m, thác Dải Yếm là thác tự nhiên, có rất nhiều cảnh quan kỳ thú, là món quà quí giá do thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này.

          Thác Dải Yếm được hình thành từ dòng Suối Vặt. Điểm khởi nguồn của dòng suối này là từ hai khe nước bó Tá Cháu và bó Co Lằm ở bản Vặt cách thác 600m về phía tay trái của thác cùng nằm trên trụ con đường quốc lộ 43. Khi chảy đến khu “Na Sai” (vườn trồng hoa lan hiện nay) được chia thành hai thác cách nhau khoảng 200m. Cả hai dòng chảy đều bị chặn lại bởi một bức tường đá vôi, nước dâng lên và tràn về bờ thấp hơn đổ xuống từng bậc đá, tung bọt trắng xoá, tạo thành những bức tranh sinh động, huyền ảo mang vẻ đẹp thật thuần khiết, hoang sơ giữa khung cảnh yên vắng của núi rừng.

            Muốn xuống thác tham quan du khách phải đi theo hai con đường:

           Đường thứ nhất do doanh nghiệp tư nhân Phiêng Luông xây dựng năm 2010. Từ mặt đường xuống khoảng 14m là con dốc nhỏ có độ nghiêng là 300 qua cầu bê tông dài 30m, rộng 1,3m bắc qua dòng suối Vặt, qua cầu bê tông là một khu đất rộng tương đối bằng phẳng, du khác vẫn theo con đường đó khoảng 50m rẽ trái là tới thác thứ nhất. Đường xuống thác hình chữ chi với 23 bậc xi măng độ dốc 500 hai bên đường mầu xanh của nương ngô và cây ăn quả, các loại cây thân leo mọc rậm rạp um tùm xanh ngút ngàn quanh năm. Nơi đây là vùng đất khiêm nhường lặng lẽ, ẩn chứa bao điều kỳ diệu của các cảnh sắc thiên nhiên, phong cảnh núi rừng tự nhiên được kết hợp với sức sáng tạo và bàn tay khéo léo của con người cùng địa hình núi đồi trùng điệp như những bức tranh sắp đặt bố cục hài hoà thơ mộng, chìm trong làn mây của hơi nước bay lên bồng bềnh như một thành phố cổ tích khiến cho du khách cảm thấy thoả mái dễ chịu khi đến thăm nơi này.

            Đường thứ hai: Do dự án tập đoàn Đông Dương xây dựng tháng 8/2011, đường xuống thác nước dài 285m gồm 113 bậc xi măng uốn khúc theo sát sườn đồi được bố trí một cách hợp lý.

Thác nước thứ nhất:

            Đứng trên đỉnh thác du khách phóng tầm mắt ra xa ta có thể thấy được cả một vùng núi rừng bao la và cảm nhận sự hùng vĩ của mảnh đất nơi đây. Một dòng thác lớn dội nước xuống vực sâu từ độ cao khoảng 70m, kết hợp với nhiều dòng thác nhỏ tạo thành màn sương trắng bao quanh chân núi đá. Dưới chân thác là cả một khoảng rộng mênh mông nước và vô vàn những mô đá nhấp nhô dọc theo bờ suối còn có rất nhiều những tảng đá bằng phẳng, những thảm thực vật xanh mướt, những cây cổ thụ to hơn một người ôm và các cây dây leo mọc đan xen nhau thành từng tầng hoà quyện vào dòng chảy  trông như một bức tranh hoành tráng. Thác được chia làm 3 tầng.

           Tầng thứ nhất nước chảy từ trên đỉnh thác xuống một thung lũng gần như thẳng đứng có độ sâu khoảng 40m, độ rộng khoảng 70m, độ cao khoảng 50m. Đặc biệt ở tầng này nước đổ thẳng từ trên cao xuống tạo thành hồ chứa nước rất  sâu, trên đỉnh thác là những cây to cổ thụ với những bộ rễ rủ xuống hoà quyện vào làn nước chảy tung bọt trắng xoá.

          Tầng thứ hai cách đó chừng 5m, sâu khoảng 20m, rộng khoảng 50m, mùa mưa lượng nước nhiều chảy tràn qua những tảng đá đất lâu năm tạo thành một bờ đi từ bên này sang  bên kia dài khoảng 30m. Đứng từ dưới chân thác nhìn lên lấy đường xuống thác làm chuẩn thác có 7 dòng chảy, mỗi dòng chảy cách nhau không xa ở độ cao gần như thẳng đứng. Từ trên đỉnh thác những dòng chảy của nước đổ xuống va đập vào những gờ đá nhô ra của vách đá tạo nên những giọt nước bắn tung toé, khi khúc xạ của ánh nắng mặt trời chiếu qua các lùm cây, thảm thực vật khiến cho du khách liên tưởng đến nơi đây giống như những dải cầu vồng trải dài dưới dòng suối Sập.

           Tầng thứ ba cách tầng hai khoảng 7m du khách đứng trên bờ nhìn theo dòng suối được tận mắt nhìn thấy hàng trăm hòn đá lớn nhỏ có hình dáng khác nhau nằm dưới dòng suối hoặc nép mình dưới những lùm cây chảy róc rách suốt ngày đêm. Nơi đây du khách có thể soi mình xuống dòng suối mát lạnh đón những giọt nước li ti từ trên lưng chừng thác bay xuống. Thảm thực vật ở khu vực thác này rất phong phú, mật độ các cây leo dài đặc hơn và có rất nhiều các cây to cổ thụ buông rễ xuống tận mặt nước, hai bên bờ suối là những nương ngô, cây ăn quả của đồng bào canh tác quanh năm. Từ thung lũng tầng ba kéo thoải xuống dòng suối Sập dài khoảng 70m, rộng khoảng 40m là các dòng chảy nhỏ với các cung bậc cao thấp khác nhau, độ chảy khác nhau, kiểu dáng khác nhau giữa một thảm thực vật đa dạng, những bậc thang đá tự nhiên, nước chảy giữa những vòm cây xanh tựa như giàn hoa quanh năm che chở cho dòng thác êm đềm, dịu ngọt.

             Diện tích toàn bộ thác một khoảng 4.000m2.Vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, toàn bộ đập tràn đỉnh thác được nước bao phủ, tràn qua và tạo thành một dải nước trắng xoá chảy tập trung xuống hồ nước. Do lưu lượng nước đầy, độ cao lớn nên các dòng chảy rất mạnh tràn qua nền đá vôi dưới chân thác nước và tạo ra những dòng thác to, nhỏ kiểu dáng cao thấp khác nhau hàng chảy dài theo dòng suối.

Thác nước thứ hai  

            Từ ngã ba đường xuống thác một, rẽ về tay phải gần 50m là thác nước hai có diện tích khoảng 3.000m2

          Đỉnh thác nước hai cách thác nước một gần 200m lui về phía tay phải đường xuống thác nước hai, thác này cũng được tạo bởi dòng chảy suối Vặt bị chặn lại ở cuối thác một, dâng lên và chảy qua một khe núi đá vôi tạo thành thác nước hai khoảng 80m.

           Đường xuống thác nước thứ hai có độ dốc lớn rất khó đi, du khách phải đứng từ dưới chân thác nhìn lên. Phía ngoài cùng của đỉnh thác vào mùa nước cạn nhìn lên chỉ có duy nhất một dòng chảy tạo thành thác có độ cao khoảng 40m. Về mùa mưa do lưu lượng nước lớn nước chảy xuống khoảng 20m thì có một gờ đá đất vôi nổi lên ở giữa, nước đổ tràn qua đây tạo thành hai dòng chảy.

          Ngay dưới chân thác hai là một hồ nước có diện tích khoảng 49m (nhỏ hơn hồ nước chân thác một). Hồ nước này cũng được tạo ra bởi dòng chảy của nước ở độ cao 40m. Qua thời gian nền đá vôi chân thác bị bào mòn xuống tạo nên hồ nước này

          Vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 .Nước chảy tràn trên toàn bộ mặt nền đá vôi trên đỉnh núi xuống chân vách đá tạo nên một dòng thác hùng vĩ. Từ chân thác nước hai (hồ nước) là một mặt nền đá vôi khá bằng phẳng có diện tích gần 30m2, từ hồ nước này kéo dài xuống lòng suối Bó Sập là 100m.

         So với thác nước một, thảm thực vật và các cây cổ thụ ở khu vực thác nước hai phong phú hơn, mật độ dày đặc hơn. Từ chân hồ nước thác hai kéo thoải xuống chân suối Bó Sập các dòng thác nước nhỏ với các cung bậc cao thấp khác nhau, kiểu dáng, độ chảy khác nhau giữa một thảm thực vật đa dạng gần như nguyên sinh làm cho cảnh quan nơi đây có vẻ hoang sơ, u tịch hơn.

        Về mùa mưa lưu lượng nước nhiều phần ngoài cùng đỉnh thác hai từ phía dưới lên còn một thác phụ rất đẹp. Phần thác phụ này bị ngăn cách với thác hai bởi một gờ đá nổi cao hơn ở mép trên cùng của núi tạo nên một dòng thác nhỏ mỏng manh phía ngoài cùng, dưới chân thác nước này có một hồ nước nhỏ khoảng 25m khá đẹp. Hồ nước này cũng được tạo ra như hai hồ nước ở thác một và hai.

Điểm chung của thác.

         Đều bắt nguồn từ sự ứ tràn nước của suối Vặt cả 2 mùa mưa và khô đều có thác nước chảy, thảm thực vật cả hai khu thác này còn tương đối nguyên vẹn. Đường xuống dốc và nguy hiểm; trong toàn bộ khu vực thác nước đọng rất nhiều thân cây, mùn đất trôi từ trên xuống, đi lại trong khu vực thác rất khó khăn?

7. Các hiện vật trong di tích

          Hiện nay di tích còn nguyên sơ

8. Giá trị lịch sử, khoa học thẩm mỹ của di tích

          Di tích danh lam thắng cảnh thác Dải yếm là một thắng cảnh đẹp của hai dòng suối Bó co lắm và Bó Ta Cháu nằm trong khu vực thiên nhiên, ẩn chứa bao điều kỳ diệu gắn với câu chuyện tình của đôi trai gái và đặc biệt là mỗi quan hệ Việt-Lào ở vùng biên giới phía Tây Bắc, Thác Dải Yếm nằm trong quần thể các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh  của khu du lịch Quốc gia Mộc Châu như: Đồn Mộc Ly. Hang Dơi, Trung đoàn 52 Tây Tiến…Đến đây du khách còn được đắm mình trong lễ hội xên bản, xên mường, được thưởng thức các điệu xoè, lời ca, tiếng hát truyền thống làm say đắm lòng người của các dân tộc Mộc Châu nói riêng và nhân dân các dân tộc Sơn La nói chung.

9. Thực Trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích

          Di tích danh lam thắng cảnh thác Dải Yếm là một cảnh quan sinh thái  hiện đang giữ được các yếu tố tự nhiên rừng, núi, dòng chảy tạo nên thác nước. Đây là một tài sản quốc gia có giá trị về mặt lịch sử, kết hợp với các giá trị văn hoá truyền thống của nhân dân các dân tộc ở bản Vặt và xã Mường Sang đã và đang được lưu giữ, bảo tồn và phát huy phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là loại hình kinh tế du lịch.

10. Các biện pháp bảo vệ và sử dụng di tích

          – Điều tra, khảo sát, lập hồ sơ khoa học, lập bản đồ quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ cấp giấy chứng nhận QSDĐ trình UBND tỉnh xếp hạng.

           – Phòng văn hoá phối hợp với cấp uỷ chính quyền xã Mường Sang xây dựng phương án bảo vệ nguyên trạng hạn chế mức thấp nhất những tác động sấu ảnh hưởng tới di tích. UBND xã Mường Sang cần phải quan tâm bảo vệ nguyên trạng các yếu tố cấu thành di tích gốc. Hạn chế thấp nhất các hành vi xâm hại, lấn chiếm làm ảnh hưởng đến di tích.

          – Sau khi được xếp hạng, danh thắng thác nước bản Vặt và những bản sắc văn hoá tộc người sẽ là những điều kiện rất cơ bản phục vụ cho phát triển kinh tế.Góp phần vào việc xây dựng và phát triển một nền văn hoá Việt nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết TƯ V khoá VIII đã đề ra.

11. Kết Luận

           Là một di tích danh lam thắng cảnh đẹp ở Mộc Châu, nơi đây gắn với dự án khu du lịch sinh thái và cũng là nơi phát triển mục tiêu kinh tế, văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc Mường Sang nói riêng và Mộc Châu nói chung. Vì vậy UBND xã Mường Sang kính đề nghị Sở VHTT&DL xem xét, lập hồ sơ khoa học trình UBND tỉnh xếp hạng năm 2011.

Sưu tầm

Tập đoàn cứ điểm Nà Sản

Tên di sản:

Tập đoàn cứ điểm Nà Sản

Địa điểm:

, Xã Chiềng Mung, Mai Sơn

Vùng:

Quốc lộ 6

Ý nghĩa lịch sử:

1. Tên gọi: Tập đoàn cứ điểm Nà Sản

Lịch sử tên gọi:

             Nà Sản đã là một trong các căn cứ quân sự quan trọng của bọn thực dân Pháp ở Tây Bắc. Là Sở chỉ huy phân khu Sơn La do đại tá Gin (Gilles) chỉ huy. Trong căn cứ thường xuyên có một số đại đội vừa làm nhiệm vụ bảo vệ và cơ động.

             Trong đợt 1 và 2 chiến dịch Tây Bắc năm 1952, ta đã giành thắng lợi to lớn, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng. Địch thấy nguy cơ bị bao vây, tiêu diệt nên đã vội vàng bỏ nhiều vị trí quan trọng rút chạy về Nà Sản co cụm thành “Tập đoàn cứ điểm” mạnh nhất lúc bấy giờ, và cũng là biện pháp phòng ngự cao nhất có ý nghĩa chiến lược lần đầu xuất hiện ở chiến trường Việt Nam (1).

            Để giành toàn thắng cho chiến dịch, Bộ chỉ huy quyết định mở đợt 3 chiến dịch “Tiến công tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản”. Đây là trận đánh công kiên lớn nhất của bộ đội ta thời kỳ đó, trận đánh then chốt để kết thúc chiến dịch Tây Bắc.

             Các trận đánh ở Nà Sản đã diễn ra rất gay go ác liệt, nhiều cán bộ, chiến sỹ đã chiến đấu và hy sinh rất ngoan cường, anh dũng dưới hoả lực phi pháp tập trung ưu thế của địch. Trước tình hình không thuận lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch đã quyết định chuyển sang bao vây, cô lập Nà Sản để củng cố vùng mới giải phóng rộng lớn, củng cố lại lực lượng để tiếp tục chuẩn bị tiêu diệt Nà Sản sau này.

             Khi Na Va sang thay thế Sa-lăng thấy “Con nhím” Nà Sản đang trong tình thế nguy hiểm đã cấp tốc cho Nà Sản rút chạy bằng máy bay (2).

            Tên gọi “Nà Sản” (Di tích Nà Sản) hay di tích “Tập đoàn cứ điểm Nà Sản” trận công kiên lớn nhất vào căn cứ cố thủ của bọn thực dân Pháp ở Tây Bắc trong chiến dịch giải phóng Tây Bắc 1952 đã đi vào lịch sử cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, cho ta nhiều kinh nghiệm, bài học quí giá mà ta thường nói “Có Nà Sản mới có chiến thắng Điện Biên”.

2. Địa điểm phân bố di tích, đường đi đến

Di tích tập đoàn cứ điểm Nà Sản nằm trên cao nguyên Nà Sản. Thuộc địa phận xã Chiềng Mung – Huyện Mai Sơn – Tỉnh Sơn La.

Di tích nằm ngay cạnh trục đường quốc lộ 6, cách thị xã Sơn La 20km về phía đông, cách thị trấn Hát Lót 10km (Di tích nằm trên trục đường giữa thị trấn Hát Lót và Thị xã Sơn La).

Di tích nằm trên một diện tích rộng khoảng 10km2 trên cao nguyên Nà Sản (là một trong hai cao nguyên của tỉnh Sơn La: Mộc Châu – Nà Sản) có độ cao trung bình là 700m được bao quanh bởi 2 dãy núi:

– Phía Bắc có các cụm núi Pú Cát, Pú Hồng, Nà Si.

– Phía Nam có các cụm núi Na Sam, Bản Cườm, Bản Vạy, Cừ Như.

Độ cao trung bình của các dãy núi trên khoảng 750m. Cao nhất là dãy núi Pú Gan trên 1000m.

Khu trung tâm điều hành các cuộc hành quân của chúng, cùng với Sở chỉ huy và sân bay vận tải chúng xây dựng tại bản Na Sam cách đường quốc lộ 6 khoảng 200m.

           Để bảo vệ cho chỉ huy và sân bay cùng khu trung tâm, địch tiến hành xây dựng hệ thống đồn bốt, pháo cao xạ 105mm, cùng giao thông hào kiên cố trên các cứ điểm như Pú Hồng, Nà Si, Bản Vạy, Cừ Như, Gò Hời, Bản Cườm, Bản Cút, Bản Lầu để tạo thành một vòng đai khép kín bảo vệ cho khu trung tâm Nà Sản.

Di tích tập đoàn cứ điểm Nà Sản được phân bố trên một diện tích rộng trên các địa danh thuộc phạm vi xã Chiềng Mung và một phần xã Hát Lót.

Vì di tích Nà Sản nằm ngay trên đường quốc lộ 6 nên ta có thể đi đến đây bằng nhiều đường và bằng các phương tiện giao thông từ hiện đại đến thô sơ rất dễ dàng.

             Một địa điểm không thể tách rời được đối với di tích Nà Sản đó là địa điểm sở chỉ huy tiền phương của ta đóng quân để chỉ huy những trận tiến công của ta vào Nà Sản tại bản Pá Nó A – xã Tà Hộc – Huyện Mai Sơn, địa điểm này đặt trên vách đá xung quanh là khu rừng dổi già, có thể nhìn thấy vùng Sông Đà nhưng rất kín đáo, kể cả không quân của địch cũng khó phát hiện được.

             Địa điểm này cách Hát Lót 25km về phía Tây Nam, gần với bến cảng Tà Hộc nhưng hiện nay đường đi đến di tích rất khó khăn, phải leo ngược dốc khoảng 5km cách đường quốc lộ mới, lên tới được chỉ có 1 phương tiện là phải leo bộ nên việc đến thăm địa điểm này hết sức khó khăn.

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích

Thu đông 1952 – Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích.

1. Tiêu diệt sinh lực địch.

2. Giải phóng cho nhân dân các dân tộc Tây Bắc thoát khỏi cảnh nô lệ.

3. Giành lại đất đai vùng Tây Bắc của tổ quốc.

4. Tạo thế cho cách mạng Lào phát triển.

             Bộ chính trị đã cử đồng chí Võ Nguyên Giáp – Tổng tư lệnh làm tư lệnh chiến dịch, kiêm Bí thư đảng uỷ chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái Tổng tham mưu trưởng làm tham mưu trưởng chiến dịch, đồng chí Nguyễn Chí Thanh chủ nhiệm Tổng cục chính trị làm chủ nhiệm chính trị chiến dịch, đồng chí Nguyễn Thanh Bình phó chủ nhiệm tổng cục cung cấp làm chủ nhiệm cung cấp chiến dịch.

A. TÌNH HÌNH ĐỊA BÀN CHIẾN DỊCH:

            Tây Bắc gồm 4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai. Rộng khoảng 44.300km2 với 44 vạn dân, gồm nhiều dân tộc thiểu số cùng chung sống như Thái, Kinh, Tày, Mường, Khơ Mú, Sinh Mun, Mông,… Trong đó dân tộc Thái đông nhất, chiếm tỷ lệ cao so với các dân tộc khác.

             Địch chiếm lại Tây Bắc sau ngày cách mạng tháng 8 năm 1945 lập “Xứ Thái tự trị”, tổ chức “Liên khu độc lập Tây Bắc” nhằm chia rẽ các dân tộc, thực hiện âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt”.

            Lực lượng địch ở Tây Bắc gồm 8 tiểu đoàn bộ binh (3 tiểu đoàn Âu Phi, 5 tiểu đoàn nguỵ) 43 đại đội bộ binh chiếm đóng và 11 khẩu pháo 105mm và 75mm. Chúng chia Tây Bắc thành 4 phân khu Lai Châu – Sơn La – Sông Đà – Nghĩa Lộ và tiểu khu Tuần Giáo.

           Lực lượng ta tham gia chiến dịch Tây Bắc có khoảng 3 đại đoàn 308, 312, 316 (thiếu một trung đoàn) tiểu đoàn 901, 6 đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu) 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu). Trung đoàn công binh, đại đoàn công pháo, 10 đại đội địa phương của 4 tỉnh và khoảng 200.000 dân công phục vụ cho chiến dịch.

B. KẾ HOẠCH CHIẾN DỊCH

Dự kiến chia làm 2-3 đợt. Đợt 1 tập trung tiêu diệt địch ở phân khu Sông Đà, đợt 3 tuỳ theo tình hình phát triển tiêu diệt phân khu Sơn La.

Thời gian chiến dịch dự kiến khoảng 3 tháng rưỡi.

Phương châm hoạt động: Chuẩn bị đánh dài ngày, đánh liên tục tiến từng bước chắc đồng thời sẵn sàng nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng.

C. TÓM TẮT DIỄN BIẾN ĐỢT 1, ĐỢT 2 CHIẾN DỊCH

Đợt 1: (Từ ngày 14/10 đến 23/10/1952).

Đập vỡ khu vực phòng ngự Nghĩa Lộ, Phù Yên giải phóng vùng tả ngạn Sông Đà:

Qua 10 ngày đêm chiến đấu, đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi.

            Ta đã tiêu diệt đại bộ phận địch ở phân khu Nghĩa Lộ, tiểu khu Phù Yên và đặc biệt tiểu khu Than Uyên, giành được thắng lợi ngoài dự kiến. Ta diệt 500 tên, bắt trên 1000 tên, trong đó có hơn 300 tên lính Âu Phi, toàn bộ Ban chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ và Ban chỉ huy tiểu khu Phù Yên. Giải phóng một phần đất đai quan trọng suốt từ hữu ngạn Sông Hồng đến tả ngạn Sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai (trừ khu Phong thổ) rộng 10.00km2, thu 1.400 súng trường, tiểu liên, 75 trung liên, 22 trọng liên, đại liên, 34 súng cối, 3 ĐKZ 37, 2 pháo 105mm, 14 vô tuyến điện và nhiều quân trang quân dụng.

Đợt 2: (Từ ngày 17/11 đến 23/11/1952)

Vượt Sông đà, đạp vỡ khu phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La, Điện Biên Phủ.

            Địch thất bại lớn ở đợt 1, đã vội vàng điều 5 tiểu đoàn Âu Phi từ đồng bằng và một tiểu đoàn Lào sang ứng cứu cho Tây Bắc. Mở cuộc hành quân lên Phú Thọ nhằm kéo chủ lực ta về. Chia Tây bắc ra làm 2 mặt trận: Phân khu Lai Châu do đại tá Đờ – La- Va chỉ huy, Phân Khu Sơn La do đại tá Gin chỉ huy, gần 8 tiểu đoàn và 13 đại đội.

             Ta thành lập mặt trận phối hợp “Y13” do đồng chí Bằng Giang chỉ huy, lực lượng gồm: Trung đoàn 165, đại đoàn 312, tiểu đoàn 910 thuộc trung đoàn 148 và các lực lượng tại chỗ.

              Do khó khăn về vận chuyển tiếp tế, mưa to, nước Sông Đà chảy xiết… Vì vậy thời gian mở đợt 2 chiến dịch phải lùi lại ngoài dự kiến đã định. Tuy vậy, trên mặt trận phối hợp “Y13” đã thu được thắng lợi to lớn ngoài dự kiến.

             Với 4 tiểu đoàn và một số đơn vị địa phương, nhưng biết phát huy thế chủ động, kịp thời nắm bắt thời cơ, tiến công kiên quyết, linh hoạt, sáng tạo, hạ quyết tâm kịp thời, chính xác, kết hợp khéo léo giữa tiến công với địch vận, làm tốt công tác dân vận. Mặt trận phối hợp Y13 đã đánh quân địch đông gấp nhiều lần trên một địa bàn rộng lớn, diệt và bắt hơn 1000 tên địch, giải phóng 6 huyện và một thị xã: Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Thuận Châu, Điện Biên và Thị xã Sơn La, rộng trên 3000km2 với trên 100.000 dân, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng.

             Trên mặt trận chủ yếu của chiến dịch cũng diễn ra gay go ác liệu, ta đã diệt Bản Hoa, Ba Lay, Mộc Châu, Hát Tiêu, Mường Lựm. Địch vội vàng đưa 2 tiểu đoàn dù mới tới Nà Sản, rút các lực lượng còn lại trên đường 41, điều tiểu đoàn Âu Phi ở Tạ Khoa, tiểu đoàn 55 nguỵ ra chiếm giữ Yên Châu – Chiềng Đông – Cò Nòi. Địch hy vọng 5 tiểu đoàn trên có thể chặn ta ở Yên Châu. Song địch không lường hết khí thế tinh thần và quyết tâm tiêu diệt chúng. Ta đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 55 nguỵ, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội thuộc tiểu đoàn dù Âu Phi, địch đã hốt hoảng tháo chạy, ta truy kích. Đúng vì đã mệt mỏi và có phần thoả mãn với thắng lợi, thiếu tích cực tìm mọi cách truy kích địch đã để 4 tiều đoàn địch chạy thoát về Nà Sản và đêm 23/11 ta tập kích Pú Hồng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch.

             Kết thúc đợt 2 chiến dịch, ta diệt và bắt hơn 3000 tên địch, tiêu diệt gọn các tiểu đoàn 3 Ma Rốc, Tiểu đoàn 3 Thái, tiểu đoàn 55 nguỵ, tiểu đoàn 58 Lào, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 dù, tiểu đoàn Thái khố xanh, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, đặc biệt đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giải phóng đất đai gồm toàn bộ tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), một số bộ phận quan trọng của tỉnh Lai Châu với diện tích 17.700km2.

Tuy vậy, ta đã phạm một số thiếu sót trong việc nắm địch, bao vây, chia cắt, truy kích, đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để diệt địch. Vì vậy nhiều tiểu đoàn địch đã chạy thoát về co cụm thành tập đoàn cứ điểm Nà Sản.

Đợt 3: (Từ ngày 30/11 đến 2/12/1952)

Tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản

             Địch co cụm về Nà Sản gồm: 8 tiểu đoàn bộ binh và dù (trong đó có 4 tiểu đoàn lê dương tương đối còn nguyên vẹn); 2 tiểu đoàn Bắc Phi, 2 tiều đoàn nguỵ người Thái mới khôi phục; Một tiểu đoàn pháo binh 105mm (12 khẩu) 1c công binh, Sở chỉ huy của tên đại tá Jin; Tổ chức thành 28 điểm tựa (chủ yếu là cấp đại đội; 2 là cấp tiểu đoàn thiếu; 2,3 là cấp đại đội tăng cường và 4 điểm tựa cấp trung đội).

            Lực lượng ta gồm: 6 trung đoàn của 3 đại đoàn 308, 312, 316, một tiểu đoàn của trung đoàn 165 hướng phối hợp Y13; 1 tiểu đoàn cối 120mm (6 khẩu) 2 đại đội sơn pháo 75mm (6 khẩu), 2 đại đội phòng không 13,2mm (8 khẩu).

Trên cơ sở các tin tức thu thập được, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định:

            – Địch có số lượng nhiều đó là chỗ mạnh của chúng, bố trí thành nhiều cứ điểm có thể yểm hộ lẫn nhau, kết thành nhiều vòng vây xung quanh sân bay, dựa vào pháo binh và nhất là không quân, địch hy vọng dựa vào không quân tiêu hao, ngăn chặn tiếp tế ta từ xa, song chỗ yếu căn bản là công sự dã chiến, vị trí bị cô lập.

            – Về ta: Thương vong đợt 1 -2 tương đối ít, song do hành quân, truy kích đường dài, sức khoẻ bị giảm sút, quân số chiến đấu hao hụt chưa được bổ sung, đường tiếp tế ngày càng dài, khó khăn tăng thêm, tuy lực lượng chúng ta không ưu thế hơn địch, nhưng vẫn cao hơn hẳn địch nhất là tinh thần, khí thế quyết tâm tiêu diệt địch, vì vậy, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết tâm: “Tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3 tiêu diệt địch ở Nà Sản giành toàn thắng cho chiến dịch”.

             Những trận đánh vào cứ điểm Nà Sản không phải là một cuộc chiến đơn giản, đánh cho xong để kết thúc đợt 3. Nó là một đợt tác chiến của chiến dịch, quan trọng không kém những đợt trước mà còn quan trọng hơn các đợt trước. Nó không đơn giản và giống như tác chiến ở đợt 1 và 2. Vì đây là một trận công kiên lớn, địch đã khác trước về cách bố trí cũng như về lực lượng.

– Phương châm trận đánh được cụ thể hoá như sau:

+ Chuẩn bị hết sức đầy đủ, đánh thật chắc thắng.

+ Đánh chỗ yếu trước, đánh chỗ mạnh sau.

+ Đánh ngoại vi trước, trnh thủ mở một diện rồi đánh vào trung tâm.

+ Liên tục tác chiến.

– Nhiệm vụ của các đơn vị:

+ Đại đoàn 308 được phối hợp thuộc tiểu đoàn 115 mặt trận Y13 tiêu diệt Pú Hồng và Gò Hời.

+ Đại đoàn 316 tiêu diệt Na Sam.

+ Đại đoàn 312 tiêu diệt Bản Vạy và Cừ Như.

              Sau 7 ngày chuẩn bị, đêm 30/11 đợt 3 chiến dịch mở màn bằng 2 trận thắng ròn rã. Trong vòng 1 giờ, Trung đoàn 102 đại đoàn 308 đã tiêu diệt một đại đội tăng cường lính Âu Phi ở Pú Hồng. Diệt 30 tên, bắt 62 tên, trong đó có tên đại uý Me Tét (Me Tais) chỉ huy Pú Hồng.

               Cùng đêm đó, tiểu đoàn 115, thuộc trung đoàn 165, đại đoàn 312 trên mặt trận phối hợp cũng tiêu diệt 1 đại đội Thái ở Gò Hời, bắt 70 tên có tên trung uý nguỵ.

Đêm hôm sau 1/12 trung đoàn 174 đại đoàn 316 và trung đoàn 209, đại đoàn 312 đã không thành công trong trận đánh Na Si – Bản Vạy.

             Sáng ngày 1/12 gần 2 tiều đoàn lê dương dưới sự yểm hộ của phi pháp đã phản kích quyết liệt tên Pú Hồng. Ta chỉ có một đại đội đã qua chiến đấu, chưa kịp củng cố công sự, song với tinh thần ngoan cường, dũng cảm đã bẻ gẫy 4 đợt phản kích của địch, diệt 120 tên, cuộc chiến đấu diễn ra quá chênh lệch về lực lượng, về hoả lực chi viện … Mãi 14 giờ địch mới chiếm được Pú Hồng. Ta bắn rơi một máy bay B 56, bắn cháy 3 máy bay (2 Đa Kô Ta, 1 Mo Ran) khi chúng xuống sân bay.

Cùng ngày địch ra chiếm lại Gò Hời (ta không giữ Gò Hời).

Trước tình hình không thuận lợi. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển sang bao vây, cô lập Nà Sản, củng cố vùng giải phóng rộng lớn, rút quân về hậu phương củng cố lại lực lượng chuẩn bị cho nhiệm vụ mới.

Kết quả đợt 3 chiến dịch: Ta thắng 2 trận Pú Hồng, Gò Hời và 2 trận không thắng Nà Si, Bản Vạy.

            Ta đã tiêu diệt hơn 500 tên, bắt 162 tên trong đó có 1 đại uý, 1 trung uý, bắn rơi một máy bay, bắn cháy 3 máy bay, ngoài ra địch còn bị thiệt hại trong sân bay do pháo ta bắn và kiềm chế, thiệt hại ở Nà Si, Bản Vạy mà ta không có điều kiện nắm được. Điều quan trọng hơn nữa là địch đã chi hàng trăm triệu đo la cho cái gọi là “Tập đoàn cứ điểm”. “Con nhím” Na Sam “để ngăn sóng” hòng cố giữ lấy Tây bắc, song cuối cùng đã phải tháo chạy. Thay vào đó là thắng lợi to lớn của chiến dịch Tây Bắc 1952, giải phóng được toàn bộ khu Tây Bắc.

4. Khảo tả di tích

Nà Sản tuy đã nhiều năm là căn cứ của địch ở chiến trường Tây Bắc và sự kiên cố của chúng chủ yếu phục vụ cho sân bay.

            Khi địch rút chạy về Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm, chúng cho chiếm lĩnh các điểm cao xung quanh sân bay để xây dựng các cứ điểm dựa vào nhau để chiến đấu là chính. Trong sân bay chỉ có trận địa pháo 105mm, súng cối 120mm, lực lượng cơ động, kho tàng và sở chỉ huy, riêng đường băng sân bay đã được mở rộng gấp 2 lần để bảo đảm mỗi ngày có 70 chiếc máy bay hạ cánh như báo Paris Match đưa tin.

            Do địch mới chuyển vào phòng ngự, công sự, vật cản, … chủ yếu là công sự dã chiến làm trong quá trình chiến đấu, vật liệu đào đắp xây dựng thường bằng vật liệu chế sẵn, hoặc vật liệu tại chỗ (tre, gỗ, đất …) để kịp thời phục vụ nhiệm vụ chiến đấu.

            Các cứ điểm trên các điểm cao cấu trúc như sau:

           Công sự: Có từ 1 đến 3 chiến hào đứt đoạn (mỗi đoạn dài khoảng 10 – 15m) khoảng cách giữa các chiến hào từ 15-20m (Pú Hồng chỉ có một chiến hào khép kín ở trên đỉnh núi, Nà Si có 2 và Bản Vạy 3 chiến hào đều đứt đoạn). Chiều rộng chiến hào khoảng 80-90cm, sâu khoảng 1m. Trong chiến hào là các ụ chiến đấu đều đắp đất hoặc bao cát, đất cao từ 50-60cm, bên trên lộ thiên, xung quanh và phía trước chiến hào cây cối ngổn ngang do địch chặt xuống làm vật cản. Hầm của sĩ quan chỉ huy Tô nong có nắp, tuy vậy chỉ chống đỡ được 82m/m (ảnh báo Paris Match chụp những lính dù đang canh giữ trong một điểm tựa).

             Vật chướng ngại: Có từ 2-3 hàng rào dây thép gai đơn hoặc kiểu cũi lợn 9cao 50-60 cm, rộng 2m) còn lại chủ yếu là chặt cây ngổn ngang để cản đường tiến công của ta (Pú Hồng có 3 hàng rào dây thép gai) ngoài ra ở Nà Si và Pú Hồng có rất nhiều tre, vầu, nứa, chúng đã chặt cho đổ về phía ta gây cản trở lớn dến việc mở cửa xung phong vào trận địa địch như ở Nà Si ta không đủ bộc phá để phá hết các bụi tre, vầu nên có hướng không mở được cửa để xung phong. Còn Bản Vạy chủ yếu là chúng chặt cây xuống làm vật cản.

Mìn rất ít (Pú Hồng không có) nếu có thường là mìn chống cá nhân, chủ yếu là để chống trinh sát ta đột nhập, báo động,…

(Xem cứ điểm Pú Hồng)

            – Các cứ điểm trong sân bay, địch có điều kiện làm kiên cố hơn như: Các đường chiến hào thường nối liền với giao thông hào cơ động, trong từng cứ điểm, 2-3 hàng rào dây thép gai bao xung quanh (có ảnh địch đang đào công sự, giao thông hào).

            – Trận địa pháo binh 105m/m: Có 3 trận địa pháo (3 đại đội, mỗi đại đội 4 khẩu) vị trí mỗi đại đội bố trí giống như hình tam giác (thể hiện trên bản đồ). Tuỳ theo địa hình, mỗi khẩu cách nhau 20 -30m, có hầm để đạn, khu công sự ẩn nấp và chiến đấu của pháo thủ.

– Kho vũ khí đạn dược: Vị trí của nó có lẽ hiện nay đang nằm dưới đường băng sân bay mới do ta nâng cấp, cải tạo.

– Khu trung tâm liên lạc, thông tin nằm ở vị trí nền nhà ga sân bay hiện nay.

– Sở chỉ huy nằm cạnh đường băng cũ khoảng 100m về phía Tây Bắc, từ đường băng máy bay hạ cánh và có đường thông hào đi thẳng vào Sở chỉ huy.

+ Căn cứ vào những bức ảnh chụp của Pháp thì sở chỉ huy trung tâm của tướng Jin được nằm sâu dưới đất 3m. Với chiều dài khoảng 6m, chiều rộng khoảng 5m.

            + Về nguyên vật liệu xây dựng: Bên trong sở chỉ huy: Xung quanh tường được vã liền bằng chất liệu bê tông gồm đá vụn, cát và xi măng, bề mặt bên ngoài được lướt tương đối mịn hơn, bên trên vòm được lợp bằng tấm kim loại (mỗi tấm 0,75mb x 2,5m) trên vòm đổ đất và các bao đất, cát cao khoảng 1m, sàn hầm được lát tấm sắt đường sân bay (mỗi tấm 0,55m x 2,4m) cửa hầm bằng gỗ được nối liền với 1 đường giao thông hào ra sân bay sâu 2,5m, rộng 4m mà báo Paris Match đã chụp ảnh gọi là “Đại lộ trung tâm dưới đất”. Thành 2 bên giao thông hào được đào vào bên trong, đây là chỗ làm việc của cơ quan tham mưu có rãnh thoát nước, bảng chỉ dẫn các cơ quan … và bên trên căng vải bạt.

              Sở chỉ huy của Jin ở Nà Sản về cơ bản như cách cấu trúc của Sở chỉ huy của Đờ Cát T-ri ở Điện Biên Phủ, chỉ khác nhau về diện tích và đường giao thông hào là nơi làm việc của cơ quan tham mưu (có sơ đồ và ảnh chụp của báo Paris Match).

             Liên quan đến di tích cứ điểm Nà Sản chúng ta không thể quên được một vị trí rất quan trọng và khiêm tốn đó là: 1 vách đá nơi đóng quân của Bộ chỉ huy chiến dịch của ta để đánh vào Nà Sản. Vị trí này là một vách hang hiện nay nó nằm ở bản Pá Nó A thuộc xã Tà Hộc – huyện Mai Sơn – Sơn La.

             Nó nằm trên đỉnh núi cao giáp ranh với bến cảng Tà Hộc và đèo Bắc Yên. Đường đi đến đây rất khó khăn, nó cách Nà Sản khoảng 30km về phía Đông Nam, nó chỉ là một vách đá có dáng vẻ giống như 1 cái hàm ếch, xung quanh là khu rừng dổi già cổ thụ, vị trí này rất cao có thể bao quát cả một khu rộng nhìn về phía Sông Đà và bao quát được cả khu vực thị trấn Hát Lót và Nà Sản. Máy bay của đối phương khó lòng phát hiện ra. Nói tóm lại mặc dù bộ chỉ huy tiền phương đóng quân ở đây trong một thời gian ngắn xong đã đảm bảo an toàn cho việc chỉ huy và rút quân của ta trong đợt 3 chiến dịch.

5. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

              Hiện nay di tích gần như bị phá huỷ hoàn toàn, bởi nó đã trải qua một thời gian dài chưa có sự quản lý của cấp nào, đặc biệt trong những năm bắn phá của đến quốc Mỹ. Cũng như các vùng khác của Sơn La bị tàn phá nặng nề thì tại nơi đây những quả bom của Mỹ đã phá đi hầu như tất cả các hiện trạng của di tích, phần nữa do bàn tay con người đã tàn phá thêm như lấy bê tông, cốt thép và dây thép gai về sử dụng tư nhân cho nên di tích bây giờ chỉ còn là bãi đất trắng.

            Đặc biệt khu trung tâm đó là khu sân bay và sở chỉ huy chính cùng với trung tâm liên lạc cũ đã bị san lấp đi, thay vào đó là hệ thống đường băng và nhà ga sân bay vùng với các nhà làm việc của một cầu hàng không dân dụng ngày nay đang sử dụng nên đã làm biến dạng di tích.

Sưu tầm

Khu căn cứ Mộc Hạ, Mộc Châu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1947 – 1952)

Tên di sản:

Khu căn cứ Mộc Hạ, Mộc Châu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1947 – 1952).

Địa điểm:

Bản Cóm, Xã Mường Men, Mộc Châu

Vùng:

 

Ý nghĩa lịch sử:

1. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích

             Mộc Hạ là một vùng đất rộng lớn của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Thuộc vùng Hạ huyện. Trên bản đồ địa lý tỉnh Sơn La. Mộc Hà là mỏm đất cuối cùng nằm ở phía Đông – Nam của tỉnh. Nằm ở phía Đông – Bắc của huyện Mộc Châu. Mộc Hạ tiếp giáp với huyện Phù Yên. Về phía Bắc tiếp giáp với Mường Lý, Mường Lát huyện Quan Hoá (Thanh Hoá) và Mai Châu (Hoà Bình) ở phía Nam, phía tây của Mộc Hạ là Mộc Thượng. Gianh giới giữa Mộc Hạ và Mộc Thượng là đường 136 chạy từ Vạn Yên (Phù Yên) đến Phiêng Luông ở km 64 đường 41 (đường 6). Mộc Hạ giáp Đà Bắc (Hoà Bình) về phía Đông, gianh giới của hai vùng là sông Đà.

            Đường dân sinh của Mộc Hạ chưa phát triển. Trước đây con đường từ trung tâm xã lên Mộc lỵ là con đường duy nhất nhưng cũng chỉ đi ngựa từng quãng. Ngoài ra có nhiều con đường mòn xuyên rừng nối giữa các bản mường. Hai con đường lớn là đường 41 (đường 6) ở phía Nam và đường 136 ở phía tây có ý nghĩa quan trọng về quân sự. Như vậy xét về góc độ địa lý. Mộc Hạ đáp ứng được yêu cầu về việc xây dựng căn cứ địa cách mạng. Từ Mộc Hạ có thể sang Thanh Hoá       qua Bản Chiềng (xã Lóng Luông hiện nay) hoặc sang Mai Châu và Đà Bắc của tỉnh Hoà Bình (khi đó huyện Đà Bắc là khu căn cứ kháng chiến của tỉnh Hoà Bình). Từ Mộc Hạ dọc sông Đà lên một đoạn ngắn đến bến Nhạc có đường sang Xuân Đài, Thu Cúc Phú Thọ). Từ đó có thể liên lạc với chiến khu Việt Bắc – Nơi đầu não kháng chiến của Đảng ta.

             Ngoài những thuận lợi có tính chiến lược quân sự vùng Mộc Hạ còn có những điều kiện cơ bản về cơ sở xã hội. Ngoài khả năng thuận lợi có thể sản xuất tự túc, tự cấp, đảm bảo yêu cầu thiết yếu cho cuộc sống, duy trì chiến đấu. Đó là tiền đề và điều kiện thuận lợi về mặt xã hội để Tỉnh uỷ Sơn La chọn Mộc Hạ là cơ sở để xây dựng căn cứ kháng chiến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược.

            Từ tháng 5 năm 1947 trước tình hình Sơn La mất dần đất vào tay thực dân Pháp. Do vậy các cơ quan đầu não của tỉnh và huyện Mộc Châu đã rút xuống vùng Mộc Hạ. Để đối phó với tình hình, Tỉnh uỷ đã quyết định mở hội nghị tại Kê Siền (Tô Múa). Hội nghị chủ trương cử cán bộ bó mật toả đi các địa phương tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tin ở kháng chiến, củng cố cơ sở, giữ vững phong trào cứu quốc, chuẩn bị xây dựng lực lượng kháng chiến, chia nhỏ trung đội vệ quốc đoàn thành các tổ công tác ở lại Mộc Hạ để hoạt động, quấy rối địch, diệt tề, trừ gian. Các cơ quan của tỉnh chuyển sang Đà Bắc để bảo toàn lực lượng.

           Thực hiện chủ trương trên, hơn 20 cán bộ trung kiên của tỉnh và huyện Mộc Châu đã ở lại, toả đi các cơ sở vùng Mộc Hạ, vận động nhân dân xây dựng lũng lán bí mật, kho tàng ở sâu trong rừng, tích trữ lương thực, thực phẩm để hoạt động.

            Sau khi đánh chiếm xong một số địa bàn trọng yếu, thực dân Pháp quay trở lại tập trung quân đánh chiếm nốt một số vùng còn lại ở Mộc Châu. Trong tháng 5 năm 1947 đường dây liên lạc giữa vùng Phù Yên với Mộc Châu cũng bị chúng phong toả. Các cán bộ ở lại bám đất, chiến đấu vùng Mộc Hạ cũng bị cắt đứt liên lạc, buộc phải tạm lánh sang Đà Bắc tỉnh Hoà Bình ở bên kia sông Đà. Sau khi ra rút, địch cho quân lính tuần tiễu, sục sạo, hòng tìm kiếm bộ đội, du kích và bắt một số cán bộ của ta gài lại. Được ít lâu chúng rút quân về Mộc Lỵ, đồng thời chúng tiến hành dựng lên bộ máy nguỵ quyền từ châu đến xã, chúng xử dụng bọn tay sai chính quyền cũ, chúng đặt bộ máy tay sai xuống các bản thực hiện chính sách đàn áp, bóc lột, khủng bố nhân dân một cách tàn bạo, bắt nhân dân đi phu, đi lính, tuyển mộ thêm nguỵ quân để thay cho quân chủ lực của chúng ở trong vùng. Đồng thời chúng ra sức vơ vét cướp bóc tài sản của nhân dân, bắt nhân dân cống nạp, làm cho đời sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Trước tình cảnh đó, nhân dân vô cùng căm ghét bọn Tây và phìa tạo tay sai, ở một số nơi như Pơ Tào, Bản Lòm, Bản Pảng, các cán bộ vẫn bám trụ nên địch chưa lập được bộ máy tề, nguỵ. Đây là điểm thuận lợi để ta gây dựng phong trào, xây dựng căn cứ kháng chiến.

            Chỉ sau nửa tháng tình hình khủng bố của địch tạm lắng, các cán bộ của tỉnh từ Đà Bắc lại trở về Mộc Hạ hoạt động, bắt liên lạc với các cơ sở trước đây, tiếp tục gây lại cơ sở ở từng bản, từng vùng. Tập trung cán bộ vào hoạt động ở những nơi thuận lợi để gây dựng cơ sở. Cử nhũng quần chúng trung kiên hoặc cán bộ địa phương kiên định, vững vàng ra hoạt động công khai như làm tạo bản, làm phìa để tạo điều kiện che chở cho cán bộ cách Mạng hoạt động. Ta phát động đấu tranh từ bí mật ra bán công khai, rồi công khai.

           Thực hiện chủ trương trên, các cán bộ được giao nhiệm vụ đã trở về hoạt động, để làm tốt công việc đó, ta đã bố trí đồng chí Sa Ngọc Chướng (tức Lê Hoạt) ra làm phìa Mộc Hạ để có điều kiện tìm hiểu âm mưu địch, đồng thời che chở cho ta trong thời kỳ đầu.

          Đầu tháng 7 năm 1947 nhận thấy tình hình tiến triển thuận lợi, nhiều cơ sở phục hồi. Tỉnh Uỷ tiếp tục chủ trương tăng cường cán bộ xuống cơ sở xây dựng lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, hình thành các đơn vị chiến đấu, thống nhất chỉ đạo xây dựng vùng Mộc Hạ trở thành căn cứ kháng chiến: Tỉnh uỷ đã quyết định phân các bản trong vùng Mộc Hạ thành 4 tiểu khu.

Tiểu khu 1 gồm các bản: Nà Bai, To Ngùi, bản Cang do đồng chí Lương Sơn phụt trách.

Tiểu khu 2 gồm các bản: Chiềng Can, Mường Tè, Pơ Tào, bản Háng, bản Nhúng do đồng chí Cầm Liên và đồng chí Hà Thị Hom phụ trách.

Tiểu khu 3 gồm các bản: Chiềng Khoa, bản Pảng, bản men, bản Mòn, Ta Hay do đồng chí Trần Bình phụ trách.

Tiểu khu 4 gồm: Tô Múa, Kê Siền, bản Khảm do đồng chí Tăng Tuân (cán bộ của Cao Bằng phụ trách).

Tiếp đó ta quyết định thành lập thêm tiểu khu 5 gồm: Mường Khủa, Song Khủa, Bó Bụt, Bản Lòm do đồng chí Bình Tĩnh và đồng chí Lân Du phụ trách, phố Hang Miếng giao cho đồng chí Trần Hạnh phụ trách.

            Tỉnh uỷ đã cử Đồng chí Trần Quyết, Bí Thư Tỉnh Uỷ về báo cáo trực tiếp thực trạng Mộc Hạ với khu uỷ 14 và xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên về việc thành lập khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ, đồng thời đề nghị với khu Uỷ bổ sung lực lượng quân sự làm nòng cốt và hỗ trợ Sơn La hình thành khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ, đồng thời đề nghị với khu uỷ bổ sung lực lượng quân sự làm nòng cốt và hỗ trợ Sơn La hình thành khu căn cứ kháng chiến. Khu Uỷ đã nhất chí chủ trương của Sơn La, quyết định điều động một đại đội bộ đội chủ lực do đồng chí Hoàng Cầm trực tiếp chỉ huy về hoạt động tại địa bản, phối hợp với lực lượng dân quân, du kích, phát triển lực lượng vũ trang, tổ chức đánh địch, giữ vững căn cứ kháng chiến Mộc Hạ.

             Để tạo thanh thế, ngày 28 tháng 7 năm 1947 bộ đội phối hợp cùng du kích khu căn cứ tổ chức tập kích kho vũ khí của địch ở Hướng Càn và tiến công Xồm Lồm. Kết quả ta giành thắng lợi: Tiêu diệt một tên quan hai Pháp, một tên lính khố đỏ, thu nhiều vũ khí và lương thực, bắt sống một số tên nguỵ binh phản động. Sau trận Hướng Càn – Xồm Lồm, địch đánh hơi thấy bộ đội chủ lực của ta, đã tập trung quân mở cuộc khủng bố điên cuồng, hòng tiêu diệt được Việt Minh. Chúng nghi có cơ quan châu bộ Việt Minh và cơ quan Tỉnh uỷ Sơn La đóng trên địa bàn Mộc Hạ (thực tế lúc bấy giờ cơ quan Tỉnh uỷ đang đóng tại bản To Ngùi). Do có bọn chỉ điểm dẫn đường, một số cơ sở bị lộ. Địch càn quyét sục sạo vào các lán trong rừng, đốt phá, bắt bớ và bắt giết thường dân một cách dã man. Trước tình hình đó, các đội du kích tạm lánh vào rừng hoạt động, cơ quan Tỉnh uỷ đang đóng ở bản To Ngùi cũng bị lộ, phải tạm thời rút sang Đà Bắc (Tỉnh Hoà Bình).

             Ngày 2 tháng 8 năm 1947 trung đội tuyên truyền vũ trang của tỉnh được thành lập gồm một số thanh niên nhiệt tình gan dạ và một số là công an viên, trung đội gồm 21 chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Bá Toản làm trung đội trưởng, đồng chí Trần Quyết, bí thư Tỉnh uỷ làm chính trị viên.

            Ngay chiều ngày 2 tháng 8 năm 1947 đánh hơi thấy có lực lượng Việt Minh ở núi Pu Tên, địch tổ chức hanh quân càn quyét. Các chiến sĩ trung đội vũ trang tuyên truyền dàn thế trận đánh địch. Chặn đường không cho chúng lên núi. Chúng lùng sục khu vực xung quanh rồi rút lui. Như vậy trận đầu ra quân, đội tuyên truyền vũ trang tuy chưa tiêu diệt được sinh lực địch, nhưng đã bảo vệ được lực lượng, bảo vệ được cơ quan của ta.

             Ngày 20 tháng 9 năm 1947 một bộ phận của lực lượng vũ trang tuyên truyền và một số thanh niên trung kiên được cử sang Đà Bắc huấn luyện số còn lại bám đất bám dân, để hoạt động. Từ đó một đội du kích xã, bản, liên bản vùng hạ huyện ra đời. Sau thất bại ở Hướng Càn – Xồm Lồm. Thực dân Pháp rất cay cú, chúng liên tiếp tổ chức các cuộc càn quyét, khủng bố, phá hoại du kích. Chúng đốt phá, bắt bớ khắp vùng Mường Tè và khu vực xung quanh.

             Trung tuần tháng 10 năm 1947, một đơn vị lính Pháp và bọn nguỵ binh gồm 36 tên thất trận từ dốc Cọ, Xuân Đài (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) tháo chạy về Pơ tào. Chúng dừng chân tại bản Lòm, bắt nhân dân phục dịch, nhân cơ hội đó đội du kích bản Lòm đã phối hợp cùng với bà con dân bản đã dùng rượu ngâm của ngàm (một loại củ rừng có chứa độc tố) chuốc cho chúng say và báo cho du kích Pơ Tào để phối hợp tiêu diệt chúng. Do phải vận động xa nên khi du kích Pơ Tào đến thì địch đã tỉnh rượu, nhưng ta vẫn tấn công, diệt 1 tên lính, thu 1 súng máy, 8 khẩu súng trường, bọn chúng hoảng loạn bỏ chạy. Sự kiện “Hũ rượu bản Lòm” chính là sự giác ngộ cách mạng, quần chúng, sự mưu trí dũng cảm của nhân dân, sáng tạo ra cách đánh địch phù hợp. Chiến công bản Lòm có ý nghĩa lớn, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc Sơn La quyết tâm kháng chiến, giết giặc lập công giải phóng quê hương.

               Ngày 15 tháng 10 năm 1947, Trung Ương ra chỉ thị: phải phá cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp trên các chiến trường, làm cho địch thiệt hại nặng sau chiến dịch mùa đông này, hoạt động quân sự của ta ở các vùng ngày càng khẩn trương buộc địch phải dàn cả quân ứng phó cả Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ. Vì vậy, mục tiêu củng cố Mộc Châu của địch không thực hiện ráo riết như trước. Đó là thời cơ để ta tăng cường củng cố cơ sở, mở rộng căn cứ kháng chiến ở vùng Mộc Hạ, địch đưa Sa Văn Ênh (phó phìa) trực tiếp xuống chỉ huy củng cố đồn Mường Tè để đối phó với hoạt động của ta trong địa bàn này, chúng lập ra tiểu đội lính dõng, xây dựng đồn Mường Tè. Trước phong trào kháng chiến dân cao, phó phìa Ênh rất lo sợ hoang mang, không dám thúc quân càn quyét, nhưng vẫn là một trở ngại cho phong trào cứu quốc ở Mường Tè. Biết rõ giao động của Ênh, ta bố trí cán bộ gặp và thuyết phục, để biến Ênh thành tề hai mặt, làm việc cho địch nhưng vẫn phải chấp nhận một số điều kiện của ta đặt ra.

             Bước sang tháng 11 năm 1194, trước phong trào ở cơ sở ngày càng lan rộng, ta đã củng cố được nhiều cơ sở mới không chỉ giới hạn trong vùng hạ huyện mà còn lan toả nhiều nơi khác. Tỉnh Uỷ đã chỉ đạo thành lập các tiểu khu mới: Hướng Càn, Quy Hướng, (khu 6), Tân Lập, Chờ Lồng (khu 7), Chiềng Đi, Bản Mòn, Bản Áng, Xuân Nha, Kiến Thiết, Lóng Sập (khu 8), A Má, Chiềng Tương, Lóng Phiêng, Tú Nang, Bó Sập, Chiềng Khừa (khu 9), phong trào phát triển tới đâu, ta tăng cường hoạt động vũ trang, vận động nhân dân phá tề, trừ gian, giải tán chính quyền của địch, lập chính quyền dân chủ nhân dân tới đấy.

             Mặt khác, ta tiếp tục đẩy mạnh củng cố và phát triển các tổ dân quân du kích ở các bản, liên bản và các tiểu khu mới thành lập, coi trọng công tác binh vận, lôi kéo giác ngộ lính dõng, nguỵ binh về phía cách mạng. Tỉnh Uỷ chỉ đạo nhân dân tích cực tham gia sản xuất, cất dấu lương thực trên lũng lán, không nộp lương thực cho địch. Mặt khác cán bộ cơ sở còn hướng dẫn nhân dân trì hoãn, khất lần thuế. Địch bắt phu, bắt lính thì vận động thanh niên trốn tránh trong các tiểu khu, các bản ở căn cứ Mộc Hạ. Hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất để ổn định đời sống, phục vụ kháng chiến.

             Đánh giá bước đầu, sau gần một năm kháng chiến và vận động xây dựng căn cứ Mộc Hạ, ngày 14 tháng 11 năm 1947, Tỉnh Uỷ Sơn La tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm. Hội nghị đã nhận định: Sau chiến thắng của quân dân ở các khu Hướng Càn, Xồm Lồm, bản Lòm cùng với các thất bại liên tiếp của địch Thu – Đông năm 1947 ở Việt Bắc, thực dân Pháp càng tăng cường bắt phu, bắt lính, cướp bóc, vơ vét trắng trợn ở khắp nơi, quần chúng càng căm thù giặc, càng hun đúc ý chí chiến đấu. Nhân dân tin tưởng vào cán bộ và bộ đội, nhiều người đã tình nguyện theo cách mạng, tham gia du kích, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bản mường.

               Sau khi nhận định bước đầu những thắng lợi, Tỉnh Uỷ đã đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới với tình hình, hoàn cảnh cho phép, tiếp tục mở rộng khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ vững chắc hơn, mở rộng khu đấu tranh, khu du kích, bao vây phục kích tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đưa cục diện kháng chiến ở Sơn La lên bước phát triển mới.

             Ngày 16 tháng 12 năm 1947, Tỉnh Uỷ đã họp và phân tích tình hình địch, đi đến nhận định: Địch đang dồn mọi nỗ lực vào chiến dịch thu đông 1947 và bị thất bại nặng nề, song trên địa bàn Sơn La chúng vẫn tăng cường khủng bố, càn quyét các địa bàn do chúng kiểm soát, nhưng nhìn chung quân giặc đang phân tán, sơ hở và tinh thần hoang mang. Tỉnh uỷ quyết định phát động quần chúng đấu tranh vũ trang vào ngày 19 tháng 12 năm 1947, nhân kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến, với khẩu hiệu “chống tập trung thóc” và “phá chính quyền địch, lập chính quyền nhân dân”. Đó là khẩu hiệu vừa mang tính chính trị, vừa đáp ứng quyền lợi thiết thực của quần chúng. Theo kế hoạch, cuộc đấu tranh đồng thời nổ ra ở các tiểu khu 1, 2 và 5, sau đó là các tiểu khu khác trong vùng Mộc Hạ, tiếp đến vận động sâu rộng các nơi, để cả các vùng địch kiểm soát để gây thanh thế.

             Tỉnh uỷ Sơn La đã chỉ đạo các cơ sở tăng cường công tác tuyên truyền, phân công cán bộ xuống từng địa bàn và tiểu khu, triển khai kế hoạch một cách chu đáo tỉ mỉ chống địch khủng bố. Đặc biệt đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh được cử đến các cơ sở hướng dẫn quần chúng tổ chức mít tinh, nói chuyện diễn thuyết. Khí thế ngày toàn quốc kháng chiến sôi sục khắp nơi. Ngày 17 tháng 12 năm 1947 tên bang tá Lò Văn Pậu đem 60 tên lính đến khủng bố Mường Khủa. Chúng bắt tạo bản chỉ đường vào lũng lán lùng bắt cán bộ và dò tìm cơ quan của Việt Minh. Ngay đêm đó ta bố trí lực lượng làm hậu thuẫn cho quần chúng đấu tranh trực diện với chúng. Tên Pậu và quân lính thấy khí thế quần chúng sôi sục, hoảng sợ buộc phải rút lui.

            Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12 năm 1947, ta tổ chức mít tinh tại tiểu khu 1 (xã Quang Minh ngày nay). Cuộc mít tinh có đại diện Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Sơn La và huyện Mộc Châu tham dự. Đại diện chính quyền tỉnh nêu rõ những cố gắng và kết quả một năm kháng chiến của tỉnh. Đồng thời kêu gọi nhân dân tham gia đấu tranh vũ trang xây dựng căn cứ kháng chiến, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp. Mở màn cho cuộc đấu tranh vũ trang ngay đêm 19 tháng 12, các đồng chí ở tiêu khu 2 (Mường Tè) đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh thắng lợi, giải tán chính quyền tay sai, bắt ba tên địch, thu 4 khẩu súng, thiết lập chính quyền nhân dân.

            Tiếp đến ngày 21 tháng 12 năm 1947, ta phục kích địch dọc đường Mường Khủa đi Mộc Hạ, chặn đứng cuộc hành quân càn quyét của địch, thu nhiều vũ khí, lương thực, thực phẩm. Ngày 23 tháng 12 năm 1947, đội vũ trang của ta tập kích dồn Mộc Hạ, bắn chết tên chỉ huy. Thực dân Pháp phải điều động thêm một đại đội từ Mộc Lỵ xuống chi viện. Ta phục kích tại Đen Đin, nơi hiểm yếu tiếp giáp giữa vùng Mộc Hạ với Mộc Thượng. Tại trận này, ta tiêu diệt đại bộ phận quân địch, số còn lại hoảng hốt tháo chạy khỏi Mộc Hạ.

            Dưới dự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, cuộc đấu tranh vũ trang vùng Mộc Hạ mở đầu cho phong trào đấu tranh ở địa bàn Sơn La, giành thắng lợi. Đó là hình thức đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, đánh du kích kết hợp với phát động lực lượng quần chúng vùng lên lật đổ chính quyền tay sai, lập chính quyền cách mạng. Liên tiếp sau cuộc đấu tranh ngày 19 tháng 12 năm 1947 một vùng rộng lớn ở các tiểu khu 1, 2, 3, 4, 5 đều được giải phóng, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, các đội du kích, xã, bản, liên bản được củng cố, phát triển, nhân dân các dân tộc phấn khởi tin tưởng vào đường lối kháng chiến. Như vậy, ta hoàn toàn kiểm soát vùng Mộc Hạ và Mộc Hạ trở thành Khu căn cứ kháng chiến của tỉnh Sơn La.

          Bước sang năm 1948, khu căn cứ vùng Mộc Hạ đã thực sự trở thanh điểm tựa của nhân dân Sơn La, để phát triển phong trào đấu tranh ra cả Mộc Châu, Phù Yên, Mai Sơn, Mường La, Thuận Châu,… Tuy bị địch thường xuyên uy hiếp, tấn công, song dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, được khu uỷ tăng cường cả về quân sự, cán bộ và phương tiện kháng chiến nên mọi hoạt động của ta vẫn được giữ vững. Như vậy, ngay từ những ngày đầu hình thành, khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ, đã là trung tâm đầu não kháng chiến của nhân dân Sơn La, là điều kiện tiên quyết để Đảng bộ Sơn La lãnh đạo nhân dân trong tỉnh vững bước trên con đường kháng chiến trường kỳ, anh dũng và vùng Mộc Hạ trở thành căn cứ kháng chiến sôi động của nhân dân Sơn La trong thời kỳ tiếp theo.

Xác định rõ vị trí chiến lược của địa bàn Sơn La, Tây Bắc, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn với sự nỗ lực cao nhất về quân sự để đánh chiếm, bình định. Mặt khác Sơn La là “cửa ngõ” trên con đường tiến quân mở rộng địa bàn xâm chiếm của thực dân Pháp xuống phía nam các tỉnh trung du thuộc Tây Bắc. Do đó quân, dân Sơn La phải gặp nhiều yếu tố bất lợi để bảo vệ, giữ vững địa bản. Mặc dù quân dân các dân tộc Sơn La phối hợp với các đoàn quân “Tây Tiến” anh dũng chặn đánh địch, nhưng trong lúc thế địch mạnh hơn gấp bội ta đã không tránh khỏi những tổn thất. Sơn La nhanh chóng bị địch kiểm soát, trừ địa bàn Mộc Hạ (Mộc Châu), Mường Bang, Mường Lang (Phù Yên),

Chiếm được Sơn La, thực dân Pháp tập trung ngay vào củng cố vị trí, không ngừng mở rộng phạm vi kiểm soát, nhằm cô lập Sơn La, Tây Bắc với Việt Bắc, bảo vệ cứ điểm của chúng ở Thượng Lào.

Thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc tháng 4 năm 1948, thực dân Pháp thành lập “Xứ Thái tự trị” gồm ba tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Phong Thổ và đặt “Xứ Thái tự trị”  nằm trong khối liên hiệp Pháp với 16 châu Thái. Toàn xứ có ba tiểu đoàn lính Thái, do các sĩ quan Pháp trực tiếp tổ chức, huấn luyện và chỉ huy, ở mỗi châu, thực dân Pháp tổ chức các tiểu đoàn dân binh địa phương. Mỗi châu có một đại đội lính chính quy do Pháp trang bị, huấn luyện và hai đại đội lính địa phương. Dưới các xã có các đơn vị lính dõng, chuyên lo canh gác, khi cần đi áp tải lao công. Trên địa bàn Sơn La: Tại Mộc Châu chỉ còn bản Lòm, Pơ Tào, bản Pảng, ở Phù Yên còn có các xã Mường Cơi, Mường Bang, Mường Lang, Mường Do và ở Thuận Châu có Bản Lầm là địch chưa kiểm soát và chưa lập được tề. Thực dân Pháp lập thêm đồn bốt ở các vị trí quan trọng để dẽ bề kiểm soát. Tại Yên Châu có đồn Mường Vạt và đồn Chiềng Đông do tên quan hai Pháp Guy-Lơ Mi-nô chỉ huy. Vùng dọc sông Mã có các đồn ở bản Pàn, bản Pịn thuộc Mường Lầm: Thuận Châu có đồn Chiềng Pấc, dọc sông Đà có đồn Chiềng Sại…

Với lực lượng quân sự bố trí như vậy, vùng Mộc Hạ gần như bị cô lập, rất khó khăn trong quá trình liên lạc với các địa phương trong tỉnh, với các khu căn cứ kháng chiến trong khu vực.

Đặt xong bộ máy thống trị, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách đàn áp, bóc lột nhân dân thậm tệ. Quân Pháp thường xuyên tổ chức các cuộc càn quyét, lùng sục bắt bớ cán bộ, nhân dân trong các vùng tạm chiếm.

Mặc dù tình hình trên chiến trường Sơn La diễn biến hết sức phức tạp, nhưng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc nói chung, ở khu căn cứ Mộc Hạ nói riêng vừa khẩn trương xây dựng lực lượng, vừa chủ động chiến đấu chống lại mọi âm mưu bình định, hành động tàn bạo của thực dân Pháp, tay sai trong điều kiện hết sức khó khăn gian khổ.

Để đối phó với lực lượng kháng chiến ngày càng phát triển, địch mở các cuộc càn quyét vào các cơ sở cách mạng trong vùng tạm chiếm. Ngày 1 tháng 1 năm 1948, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đánh phá Mộc Hạ – trung tâm Khu căn cứ kháng chiến Mộc Châu. Lực lượng địch huy động 300 tên gồm “Tây đen, Tây trắng” và lính dõng đánh vào từ các hướng: Mộc Lỵ xuống bản Pảng – Tô Múa – Tô Múa đến Mường Tè: Từ suối Rút lên Diềm, vượt sông Đà đánh vào Nà Bai rồi tiến về Mường Tè và tự Vạn Yên đánh sang Quy Hướng, qua Tô Múa tiến vào Mường Tè. Địch dùng hoả lực uy hiếp rất ác liệt, chia quân bao vây, cắt đứt liên lạc giữa các tiểu khu với nhau, tình hình hết sức căng thẳng. Trong khi đó khu căn cứ Mộc Hạ mới được xây dựng, địa bàn nhỏ hẹp, lực lượng quân sự nhỏ bé, du kích ở Mường Tè, Nà Bai, Tô Múa… mới hình thành, giao thông liên lạc trong khu căn cứ gặp nhiều trắc trở, các lũng lán cho dân sơ tán còn sơ sài.

Để đối phó với các cuộc càn quyét dữ dội của địch, nhân dân được triệt để sơ tán, thực hiện tiêu thổ kháng chiến.

Ngày 19 tháng 1 năm 1948, cuộc khủng bố lần thứ hai do tên phìa Ênh (Sa Văn Ênh) dẫn một trung đội lính dõng về đánh úp cơ quan kháng chiến của tỉnh, một đội viên võ trang tuyên truyền hy sinh và ta bị mất một số lớn tài liệu.

Ngày 18 tháng 1 năm 1948, cuộc khủng bố lần thứ ba vào khu căn cứ kháng chiến gồm một trung đội lính Tây từ Suối Rút lên qua bản Men vào đóng ở trung tâm xã Mộc Hạ. Từ phía Vạn Yên, có 100 tên vừa lính tây, vừa lính khố đỏ qua Quy Hướng về Mộc Châu. Ngày 2 tháng 2 năm 1948 tên Lò Văn Pậu dẫn 100 lính dõng gồm 10 tên quan Pháp chỉ huy về Mường Tè khủng bố. Mặc dù lực lượng địch đông, hiếu chiến, nhưng quân dân du kích đã phục kích đánh trả quyết liệt, bất ngờ, buộc chúng phải sớm rút lui.

Ngày 20 tháng 2 năm 1948, địch mở cuộc khủng bố lần thứ tư. Chúng cho từng trung đội đi đóng ở các nơi, lập các cứ điểm nhỏ: Kê Siền, Bản Hào, Mường Tè, Nà Bai nhằm củng cố Mộc Châu và cố thủ ở vùng Mộc Hạ.

Cuối tháng 4 năm 1948, địch lại từ ba phía: Mộc Lỵ, Suối Rút, Vạn Yên tiến thẳng vào khủng bố khu tự do Mộc Hạ lần thứ năm. Nhưng đi tới đâu giặc Pháp và tay sai đều gặp phải du kích mai phục, đánh bất ngờ. Sau ba hôm càn quyét, bị lực lượng vũ trang và du kích liên tục bao vây nên địch buộc phải rút lui.

Sau 5 lần tấn công, khủng bố, không thu được kết quả như âm mưu của chúng đề ra, địch đã thay đổi kế hoạch. Chúng bỏ chiến thuật tập kích xông thẳng, mà chuyển sang tập kích bao vây, nhằm cắt đứt liên lạc của tỉnh Uỷ Sơn La với Khu Uỷ, chặn đường tiếp tế, lập nhiều cứ điểm nhỏ quanh vùng tự do. Chúng đóng ở Xuân Đài, Võ Miếu (Phú Thọ) để cắt đứt đường tiếp tế vào khu căn cứ, đóng quân ở Mộc Lỵ, Chiềng Khừa, Chiềng Ve, Cò Nòi để giữ đường liên lạc của chúng vào Lào, Yên Châu và Suối Rút. Để bao vây Mộc Thượng, chúng lập cứ điểm ở Sốp Bưn, Mường Lựm (Yên Châu), để khủng bố nhân dân.

Nhận rõ vị trí chiến lược Sơn La, Tây Bắc, ngày 20 tháng 1 năm 1948, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân tự vệ ra chỉ thị số 114/CT-BT và 115/CT-BT nói rõ nhiệm vụ giải phóng đồng bào Tây Bắc và xây dựng căn cứ địa Tây Bắc là nhiệm vụ căn bản của liên khu 10. Để thống nhất lực lượng, thống nhất sự chỉ huy, tác chiến, kịp thời đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của thực dân Pháp, ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh số 120 sát nhập Khu 10 và Khu 14 thành liên khu 10.

Liên Khu Uỷ 10 ra Chỉ thị về việc thành lập Ban công tác Tây Bắc, phân công đồng chí Lê Trọng Tấn, Quân khu phó phụ trách. Bốn đội vũ trang tuyên truyền của liên khu 10 lần lượt thành lập và được giao nhiệm vụ.

Đội xung phong Quyết Thắng thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1948, do đồng chí Hoàng Quy làm đội trưởng.

Đội xung phong Quyết Tiến thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1948, do đồng chí Lý Bạch Luân làm đội trưởng.

Đội xung phong Trung Dũng được thành lập ngày 29 tháng 2 năm 1948, do đồng chí Cầm Trung làm đội trưởng.

Đội xung phong Bắc Lào được thành lập ngày 20 tháng 2 năm 1948, do đồng chí Cay-xỏm Phôm-Vi-Hản làm đội trưởng.

Đội xung phong Trung Dũng đã phát huy tốt vai trò nòng cốt trong việc tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng, mở rộng khu căn cứ, cán bộ chiến sỹ trong đội phần lớn là người Sơn La. Hướng hoạt động của đội xung phong Trung Dũng xuất phát từ Cẩm Khê (Phú Thọ) qua Mộc Châu, đi Yên Châu, Mai Sơn, Chiềng Khương, Mường Hung lên Điện Biên, lấy Mộc Châu làm chỗ đứng chân. Đây là cơ sở quan trọng giúp cho Sơn La có điều kiện phối hợp tác chiến, đối phó một cách có hiệu quả với âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của thực dân Pháp trong địa bàn Sơn La nói chung, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ kháng chiến Mộc Hạ nói riêng. Quân dân các dân tộc trong khu căn cứ đã phối hợp chặt chẽ với các đại đội độc lập được điều vào Sơn La tiến hành chiến tranh du kích, chống địch càn quyétm bảo vệ cơ sở cách mạng. Đại đội 860 hoạt động ở Mộc Châu đã cùng quân dân Mộc Châu đánh lui cuộc khủng bố của địch vào khu tranh đấu, hạ đồn, hạ đồn Chiềng Khừa, Mường Khoa. Tháng 3 năm 1948, nhân dân Khu 8 mở cuộc đấu tranh, rồi lan khắp Khu 9, tạo điều kiện thuận lợi cho các đại đội tiến vào Yên Châu, Mai Sơn.

Phối hợp với cuộc đấu tranh của Mộc Hạ, đầu tháng 5 năm 1948, Phù Yên phát động nhân dân vùng tạm chiếm đấu tranh và phát động chiến tranh du kích trong lòng địch. Phong trào kháng chiến Phù Yên ngày càng phát triển, mở rộng, góp phần tạo thế cho căn cứ Mộc Hạ đứng vững và phát triển vững chắc.

Khu căn cứ vùng Mộc Hạ được củng cố, mở rộng là điều kiện để Tỉnh uỷ Sơn La quyết định thành lập hai đại đội xung phong Quyết Tiến và Chiến Thắng vào tháng 5 năm 1948, để phối hợp với các đại đội độc lập tiến sâu vào vùng hậu địch gây dựng cơ sở. Hai đội xuất phát từ căn cứ Mộc Hạ, tháng 5 năm 1948, đội xung phong Trung Dũng của khu và đội xung phong Quyết Tiến của tỉnh lên hoạt động và gây cơ sở được ở các địa bàn như Chiềng On, Mu Tươi. Tháng 6 năm 1948, địch tổ chức càn vào Tú Nang, nhưng đã bị đội xung phong Trung Dũng cùng với du kích nhanh chóng, phục kích, cản phá, tiêu diệt 40 tên địch, trong đó có một tên quan Hai chỉ huy đồn Mộc Châu khét tiếng tàn bạo, thu một số vũ khí.

Ngày 5 tháng 9 năm 1948, Tỉnh uỷ Sơn La tiếp tục tổ chức đánh đồn bản Đán giành thắng lợi, toàn bộ vũ khí thu được trang bị cho du kích.

Bước sang năm 1949, thực dân Pháp đã thực sự lo ngại trước những thất bại không thể tránh khỏi của chúng. Âm mưu lập vành đai trắng của địch đã bị thất bại. Do đó, chúng tập trung cao độ để đối phó về mọi mặt, thực dân Pháp tập trung vào củng cố Sơn La trở thành đại bản doanh của khu Độc lập Tây Bắc, với hệ thống đồn luỹ kiên cố, dầy đặc rào kẽm gai, hầm hào chiến đấu. Ngoại vi các cứ điểm được chúng lập nên là tháp canh, tề điệp. Nhân dân các bản sống xung quanh bị dồn về tập trung quanh đồn luỹ. Các đội tuần tiễu lưu động ngày đêm đi sục sạo, bắt vô cớ những người mà chúng nghi là Việt Minh.

Phân tích nhận định tình hình, Tỉnh uỷ Sơn La tổ chức Hội nghị tại Mộc Hạ ngày 15 tháng 5 năm 1949, khẳng định: Chúng ta đã làm chuyển biến lực lượng kháng chiến từ thế yếu sang thế mạnh. Lực lượng ba thứ quân của ta ngày càng trưởng thành. Dân quân đã phát triển rộng khắp các cơ sở, có kinh nghiệm đánh giặc. Địa bàn của ta ngày càng được mở rộng.

Trong hai năm anh dũng chiến đấu Khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ đã giành được nhiều thắng lợi. Phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân phát triển của một số bản của xã Mộc Hạ, Quy Hướng, Hướng Càn đã lan rộng ra toàn Mộc Châ (trừ Xuân Nha). Các đội vũ trang tuyên truyền du kích không ngừng trưởng thành về mọi mặt. Khu căn cứ Mộc Hạ mở rộng đã phát huy được vai trò chỉ đạo phong trào kháng chiến tạo điều kiện để Quân khu tăng cường cho Sơn La các đại đội chủ lực.

Tuy còn trong hoạt động bí mật, nhưng công tác xây dựng Đảng trong khu căn cứ đã có bước phát triển mạnh. Tháng 3 năm 1948, Ban châu uỷ Mộc Châu được thành lập, gồm có 4 chi Bộ trực thuộc: Chi bộ xã Mộc Hạ, Mộc Thượng, Hướng Càn, Quy Hướng, chính quyền nhân dân trong khu căn cứ Mộc Hạ từ huyện đến xã được thành lập. Ngày 27 tháng 4 năm 1948, Trung ương Đảng quyết định sát nhập hai tỉnh Sơn La và Lai Châu, thành liên tỉnh Sơn – Lai. Sau khi cơ bản kiểm soát được tình hình trong khu căn cứ. Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được thành lập trong khuc ăn cứ, như Tỉnh đội dân quân, do đồng chí Nguyễn Bá Toản làm tỉnh đội trưởng, đón tại bản Bó Bụt (xã Quang Minh), Ty Liêm phóng (thành lập năm 1949) do đồng chí Cầm Hiền (Bùi Đức Chính) làm trưởng ty, đóng tại bản Bó Bụt, Ty bình dân học vụ, Ty nông chính, Ty Thông tin đóng tại bản Tô Múa,…

Tháng 9 năm 1948, Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng đã quyết định củng cố Ty bình dân học vụ, tổ chức các trường tểu học trong khu căn cứ, mở các lớp bình dân học vụ. Công tác xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh, bài trừ các hủ tục lạc hậu và mê tín dị đoan, nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân các dân tọc, đã góp phần giáo dục nhân dân nâng cao sự hiểu biết và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Khu căn cứ Mộc Hạ được bảo vệ, xây dựng có ý nghĩa và tác dụng to lớn về mặt quân sự, làm cho chiến tranh du kích ngày càng phát triển, tạo điều kiện đóng góp sức người sức của phục vụ kháng chiến. Căn cứ kháng chiến mộc Châu đã trở thành hậu phương vững chắc của cuộc chiến tranh nhân dân Sơn La.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Sơn La diễn ra ngày càng ác liệt. Quân và dân các dân tộc Sơn La đã tổ chức ngăn chặn các mũi tấn công từ Tây Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ của thực dân Pháp. Khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ được giữ vững trước mọi cuộc càn quyét, đánh phá ác liệt của địch, được xây dựng củng cố về mọi mặt, phát huy tác dụng to lớn, trở thành nơi đứng chân của các đội xung phong tuyên truyền, các đơn vị bộ đội chủ lực. Khu căn cứ đã góp phần thúc đẩy phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp ở Tây Bắc và ở Thượng Lào.

Căn cứ vào địa bàn và phương hướng xây dựng căn cứ địa ở Tây Bắc của Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam, Quân khu uỷ đã chia toàn bộ căn cứ hâu địch trên chiến trường Tây Bắc thành 4 khu: A, B, C, D, trong đó khu C là vùng Mộc Châu, Yên Châu, Sơn La; khu D là vùng dọc biên giới Việt – Lào. Khu căn cứ Mộc Hạ dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã trở thành địa bàn tương đối an toàn cho Tỉnh uỷ Sơn La xây dựng các đội xung phong vũ trang tuyên truyền của tỉnh, các đội xung phong liên Khu, các đại đội chủ lực của liên khu 10 đứng chân, làm bàn đạp tấn công, phát triển vào vùng hậu địch, mở rộng khu tự do, nối liền ba khu thành một phòng tuyến chiến tranh nhân dân trong lòng địch, hướng phát triển lên Lai Châu và Điện Biên Phủ.

Đội xung phong Trung Dũng đã xuất phát từ Mộc Hạ tiến lên Yên Châu, dọc biên giới Việt – Lào lên Sông Mã, Điện Biên. Trên đường lên Yên Châu đội đã phục kích đánh địch, giành thắng lợi ở Tô Buông, tạo thế lợi cho đội đu kích và nhân dân xã Tú Nang đứng lên đấu tranh đánh đổ bọn việt gian, giành thắng lợi. Khu du kích Tú Nang được thành lập.

Cuối năm 1948, thực dân Pháp và tay sai tập trung về mọi mặt để đối phó với phong trào kháng chiến của nhân dân Sơn La đang ngày càng mạnh mẽ. Trước diễn biến ngày càng phức tạp, ngày 6 tháng 12 năm 1948, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra chỉ thị “Phá tấn công của địch ở Yên Châu” , đồng thời phát động phong trào đánh địch dọc đường 41, nhằm gây cản trở giao thông và tiêu diệt một phần sinh lực địch.

Chấp hành chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đầu tháng 1 năm 1949, lực lượng du kích xã Tú Nang đã phục kích và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch. Đại đội 818 do đồng chí Quốc Đĩnh và Trí Anh phụ trách, tiến quân từ Tú Nang lên Nà Ngà, phục kích và tiêu diệt bộ phận sinh lực địch. Đơn vị tiếp tục hành quân xuống Lóng Phiêng, Mu Tươi lên Cò Nòi, chuẩn bị kế hoạch đánh địch, sau đó tấn công tập kích đồn Mường Khoa, rồi rút về Mộc Hạ củng cố lực lượng.

Được đại đội 818 và đội xung phong tuyên truyền Quyết Tiến của tỉnh phối hợp, lực lượng du kích và nhân dân các dân tộc huyện Yên Châu đã tấn công địch mạnh mẽ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề. Ngày 6 tháng 11 năm 1949 Uỷ ban kháng chiến hành chính lâm thời huyện Yên Châu được thành lập. Năm 1949, gây dựng cơ sở cách mạng được 2/5 địa bàn huyện, khu tự do và khu tranh đấu phát triển và mở rộng chiếm 1/3 huyện.

Phối hợp với đội xung phong Trung Dũng, đội xung phong Quyết Tiến của tỉnh do đồng chí Cầm Van (tức Ngọc Tĩnh) – bí thư Châu bộ Mai Sơn phụ trách gồm 10 đội viên, xuất phát từ Mộc Hạ, phát triển cơ sở theo dọc biên giới Việt – Lào, qua Yên Châu vào Mai Sơn. Cuối tháng 8 năm 1948, đội đã vào gây dựng cơ sở ở Hát Lót, đến tháng 10 năm 1948 vào tới Mường Mần, Mường Sại, Chiềng Khương. Do đó, đến cuối năm 1948, Mai Sơn đã xây dựng được những khu du kích nổi tiếng như: Y Lương, Mường Mần, Hát Lót, Mường Sại và phát triển sang Sông Mã.

Từ vùng Mộc Hạ, đội chiến thắng do đồng chí Cầm la (tức Vũ Ngọc Thành) phụ trách gồm 10 đội viên bí mật tiến quân lên Đá Đỏ, vượt sông Đà qua Tạ Khoa lên Mường Chùm, Mường Bằng, Mường Bú, châu lỵ Mường La để hoạt động. Đội Chiến Thắng đã gây dựng được cơ sở vững chắc, hình thành khu tranh đấu hữu ngạn sông Đà, Mường La.

Đầu năm 1949, Tỉnh uỷ cử đại đội độc lập do đồng chí Phùng Binh, Bộ chỉ huy lên Mường La phối hợp với đội xung phong Chiến Thắng, hoạt động vũ trang tuyên truyền, phương thức hoạt động vừa công khai, vừa bí mật. Ngày 27 tháng 3 năm 1949, huyện Mường La, phát động phong trào đấu tranh tại 3 xã Mường Bằng, Mường Bú, Mường Chùm, chủ động tấn công địch để bảo vệ khu tranh đấu hữu ngạn. Mở đầu lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với Đại đội 860 tổ chức đánh úp địch ỏ huyện lỵ, bao vây nhà Bạc Cầm Quý. Đội vũ trang tuyên truyền và đại đội chủ lực tiếp tục tấn công, phát triển thành 3 hướng vào các vùng lân cận của tỉnh lỵ.

Khu tả ngạn sông Đà – Mường La đến cuối năm 1949 đã phát triển nhiều cơ sở cách mạng Chiềng Công, Chiềng Ân, Nậm Păn… Tháng 6 năm 1949, đồng chí Trần Quyết thay mặt tỉnh uỷ đến lũng Đán Đanh công bố quyết định thành lập huyện uỷ Mường la, đồng chí Hoàng Cầm la được cử làm bí thư huyện uỷ.

Thuận Châu, từ tháng 5 năm 1949, các đại đội 870, 818 được tăng cường và tổ chức tấn công địch ở huyện lỵ. Đội xung phong Quyết Tiến của liên khu 10 đã cùng bộ đội Quỳnh Nhai xây dựng cơ sở ở dọc sông Đà và ba xã Mường É, Long Hẹ, Mường Bám, tiến dàn vào xây dựng cơ sở ở Sốp Cộp (lúc đó thuộc Điện Biên – Lai Châu).

Như vậy, Khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ hình thành và phát triển đã trở thành trung tâm lãnh đạo toàn diện phong trào cách mạng trong tỉnh. Do đó đến năm 1949, Sơn La đã có các khu căn cứ du lích tương đối vững mạnh để kháng chiến: Mường Lang, Mường Do, Mường Bang, Đá Đỏ, Bản Thải, Mường Cơi của huyện Phù Yên; Mường Lựm của huyện Yên Châu; bản Mòn, A Má, Bó Sập, Chiềng Khừa, Tú Nang của huyện Mộc Châu. Cùng với lực lượng du kích và các đội vũ trang tuyên truyền địa phương. Sơn La có đủ sức mạnh để bảo vệ, củng cố và phát triển các khu căn cứ kháng chiến, mở rộng vùng tự do. Những thắng lợi đó đã đạp tan âm mưu tấn công khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ, lập vành đai trắng của kẻ địch.

Là cửa ngõ vào tây Bắc và thượng Lào, khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ đã trở thành cơ sở an toàn, bàn đạp để các tổ, đội làm nhiệm vụ tiến sâu vào sau lưng địch. Sau một thời gian chuẩn bị, đội xung phong Trung Dũng từ Mộc Hạ – trung tâm khu căn cứ kháng chiến lên Mộc Thượng, gây dựng cơ sở dọc biên giới Việt – Lào và từ Yên Châu lên Điện Biên.

Có đường biên giới giáp với Lào, Sơn La là tỉnh đầu tiên của Tây Bắc được Trung ương và liên khu 10 giao nhiệm vụ giúp đỡ đội xung phong Bắc Lào xây dựng cơ sở cách Mạng ở tỉnh Sầm Nưa. Vào giữa năm 1948, tại Mường Khủa, một bản thuộc hạ huyện Mộc Châu, Tỉnh uỷ Sơn La đã phối hợp với đội xung phong Bắc lào, trực tiếp là đồng chí Cay-Xỏn-Phôm-Vi-Hản, đội trưởng đội xung phong Bắc Lào bàn kế hoạch xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng ở Sầm Nưa. Được sự đồng ý của tỉnh uỷ Sơn La, đội xung phong Bắc Lào đã đặt căn cứ ở bản Lao Khô (thuộc xã Chiềng On). Đội đã được nhân dân các dân tộc bản Lao Khô che dấu, bảo mật, giúp đỡ về lương thực, thực phẩm, nhường cơm, sẻ áo, tạo điều kiện để đội đóng quân, hoạt động gây cơ sở. Vào cuối năm 1948, đội xung phong Bắc lào đã xây dựng được căn cứ đứng chân ở Lao Mãng, Lao Hùng thuộc huyện Xiềng Khọ, tỉnh Sầm Nưa – Lào.

Sự ra đời căn cứ Lao Mãng, Lao Hùng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với khu căn cứ Mộc Hạ, nhất là đối với khu du kích Chiềng Khừa, A Má, Bó Sập thuộc xã Mộc Thượng. Các cuộc càn quyét của địch từ Lào sang các khu du kích của Mộc Thượng đã có căn cứ Lao Mãng, Lao Hùng đánh chặn. Đồng thời khu du kích Chiềng Khừa, A Má, Bó Sập trở thành lá chắn che chở cho phía sau của khu căn cứ Lao Mãng, Lao Hùng.

Khu căn cứ kháng chiến Mộc Hạ ra đời và phát triển khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta đang trogn thời kỳ quyết liệt. Nhưng tại đây là chiếc cầu nối, nối liền Tây Bắc với Việt Bắc, với khu ba, khu bốn, đường liên lạc từ Mộc Châu đã nối liền với Cẩm Thuỷ (tỉnh Thanh Hoá), Hiền Lương (tỉnh Phú Thọ), Đà Bắc, Tu Lý (tỉnh Hoà Bình). Đây chính là đường dây liên lạc nối liền với chiến khu 4, Bình Trị Thiên, giúp cho sự chỉ đạo của Trung Ương và của Bộ Tổng tư lệnh quân đội quốc gia Việt Nam thông suốt. Tháng 7 năm 1947, đoàn cán bộ Liên Khu uỷ khu 5 cùng một số nhân sĩ trí thức ở Huế do đồng chí Hồ Viết Thắng làm trưởng đoàn đã về căn cứ địa Việt Bắc qua con đường mòn này. Đồng chí Bắc Dũng được Khu uỷ Khu 10 cử lên Lai Châu làm nhiệm vụ đã chọn Khu căn cứ Mộc Hạ để dừng chân, tỉnh uỷ Sơn La đã bố trí, chuẩn bị lực lương thực, thực phẩm và người dẫn đường giúp đồng chí vượt qua những vùng địch kiểm soát, lên Pú Nhung, Lai Châu xây dựng cơ sở kháng chiến.

Căn cứ kháng chiến Mộc Hạ không những là bàn đạp vững chắc cho việc phát động phong trào quần chúng vùng dậy đấu tranh giải phóng Sơn La mà còn là nơi đào tạo, rèn luyện những cán bộ, đảng viên trung kiên, yêu nước người địa phương, bổ sung lực lượng cho cách mạng kịp thời.

Từ cuối năm 1947, ở Mộc Hạ, tỉnh uỷ đã mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ là người địa phương, đến năm 1948, 1949 các lớp huấn luyện tiếp tục được tăng cường mở tại các khu du kích trong tỉnh. Đến năm 1948, căn cứ Mộc Hạ đã thực sự trở thành hậu phương vững chắc, góp phần tích cực vào cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Sơn La.

Bước sang năm 1950, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến tích cực có lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta. Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950 thắng lợi, mở ra cục diện mới làm thay đổi lực lượng giữa ta và địch.

Để giữ vững phong trào, Tỉnh uỷ Sơn La đã ra chỉ thị cụ thể cho từng huyện về xây dựng lực lượng, gấp rút củng cố phong trào kháng chiến, riêng Mộc Châu phải giữ vững đường liên lạc và phối hợp chặt chẽ với Bắc Lào, Mai Thuận, Phù Yên và Thanh Hoá. Ban chỉ huy tỉnh đội dân quân được kiện toàn. Một số đội du kích tập trung ở xã, bản được rút lên xây dựng thành hai đại đội chủ lực của tỉnh Liên huyện Mộc – Yên thành lập được 3 trung đội du kích. Mỗi xã vùng tự do có hai tiểu đội du kích tập trung. Bộ đội địa phương và dân quân du kích với đủ các thành phần dân tộc tham gia có tính chiến đấu gan dạ, bền bỉ và quyết tâm vượt qua mọi thử thách, nhưng kỹ chiến thuật còn non yếu, trang bị vũ khí thô sơ và hậu cần thiếu thốn, nên khi quân chủ lực rút lui đi, sức mạnh quân sự của ta gặp nhiều khó khăn.

Với âm mưu củng cố Sơn La cắt đứt đường liên lạc giữa Tây Bắc với Thượng Lào, quân Pháp lập thêm phòng tuyến sông Đà và củng cố các phòng tuyến 41, sông Mã, tăng thêm phương tiện chiến tranh, chiếm đóng trên 30 cứ điểm lớn, nhỏ trong tỉnh, mở các cuộc càn quyét nhằm phá vỡ các cơ sở chính trị, các khu du kích của ta trong vùng tạm chiếm.

Địa bàn Mộc-Yên có trên một tiểu đoàn địch chốt giữ ở 5 điểm chính: Mộc Lỵ, Mường Lựm, Yên Lỵ, Chiềng Đông, Tạ Khoa và một số điểm phụ như: Sốp Bưn, Chiềng Ban, Nà Ngà. Ngay từ đầu năm 1950, địch tăng cường càn quyét vùng Yên Châu, Mộc Thượng, Tú Nang, hòng nối lại đường Mộc Lỵ – Yên Lỵ, nhằm cắt đứt đường liên lạc của ta giữa Mộc Châu và Mai – Thuận. Chúng tập trung phá vùng căn cứ Mộc Hạ, tháng 4 năm 1950, từ Mộc Lỵ, Phù Yên, quân Pháp chia làm nhiều mũi với lực lượng khá lớn tấn công vào khu tự do Mộc Hạ. Pháp chia làm nhiều mũi với lực lượng khá lớn tấn công vào khu tự do Mộc Hạ. Bộ đội địa phương và dân quân du kích phối hợp với tiểu đoàn 930 bộ đội chủ lực đã anh dũng chiến đấu đánh trả cuộc càn quét của địch. Sau 15 ngày giao chiến, các cuộc tấn công của địch bị chặn đứng, quân địch phải rút lui khỏi Mộc Hạ. Tháng 6 năm 1950, ta tổ chức phục kích, đánh địch ở Tà Phềnh, tháng 7 năm 1950 ta mở chiến dịch phối hợp với Mặt trận Lào Bắc, đánh mạnh dọc đường 41, giữ vững cơ sở ở Tú Nang, Yên Châu. Từ sau tháng 8 năm 1950, địch chỉ tổ chức những cuộc càn quét lẻ tẻ ở từng địa phương. Đầu tháng 9 năm 1950, chúng rút quân từ Mộc – Yên sang phối hợp càn quét ở Lào Bắc. Chiến dịch Biên giới phía bắc (tháng 10 năm 1950) thắng lợi vẻ vang làm cho quân địch ở Sơn La hoang mang chúng rút hết quân về đồn chính, thực dân Pháp tăng cường củng cố Sơn La, đặc biệt là phòng quyến sông Mã và đường 41, nhằm giữ liên lạc giữa Sơn La với Thượng Lào. Chúng dời sở chỉ huy từ Lai Châu về Sơn La và củng cố tinh thần nguỵ binh, đồng thời tăng cường các hoạt động quân sự, tiếp tục mở các cuộc càn quét có tính chất thăm dò vùng tự do ngoại vi Mộc Hạ, tấn công vào các khu căn cứ của ta.

Để quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2 năm 1951), Đảng bộ tỉnh Sơn La tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất tại khu căn cứ Mộc Hạ. Đại hội tiến hành từ ngày 20 tháng 3 đến ngày 2 tháng 4 năm 1951 với sự có mặt của 76 đại biểu thay mặt cho hơn 300 đảng viên trong toàn tỉnh. Trong khi đại hội đang họp, quân địch tổ chức cuộc tập kích qui mô lớn vào Mộc Hạ, nhằm đánh úp cơ quan đầu não kháng chiến của tỉnh. Khi được tin địch chuẩn bị càn quét, Tỉnh uỷ Sơn La yêu cầu Liên khu Việt Bắc tăng cường cán bộ vũ khí cho Mộc Hạ để tổ chức chống càn. Liên khu Việt Bắc tăng cường cán bộ vũ khí cho Mộc Hạ để tổ chức chống càn. Liên khu Việt Bắc điều đại đội 428, 310 và đại đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh. Tổng số quân của ta có đến 600 người (kể cả quân du kích) bằng 2/5 lực lượng địch.

Từ ngày 16 tháng 3 năm 1951, địch tập trung quân ở các châu phía bắc dồn về Vạn Yên và Mộc Lỵ. Ngày 28 tháng 3 năm 1951, địch tổ chức cuộc tổng càn quét vào khu tự do Mộc Hạ với lực lượng khoảng 1.500 quân và 500 dân phu, trong đó có 5 tên quan hai và một quan ba thầy thuốc, do quan tư Vô-Đơ-Rây, chỉ huy. Lực lượng chủ yếu của chúng là lính Thái Lai Châu, khố đỏ, lính dõng và lính Âu-phi, vũ khí có 15 súng máy, 10 khẩu Morchre, súng trường, tiểu liên và trang bị vô tuyến điện. Chúng chia làm nhiều mũi tiến vào Mộc Hạ.

Mũi thứ nhất: Theo đường 41 đánh vào Phù Mẫu.

Mũi thứ hai từ: Đà Bắc (Hoà Bình) vượt sông Đà đánh lên Nà Bai ra Bó Bụt và đóng ở đó.

Mũi thứ ba: Theo đường dây thép cũ đánh thọc vào bản Men.

Mũi thứ tư: Từ Mộc Lỵ đánh vào Kê Siền, Mường Khủa.

Mũi thứ năm: Từ Vạn Yên theo dọc sông Đà đánh vào Bó Hoi, Bó Bụt.

Quân địch chia làm nhiều tốp, mỗi tốp từ một đến hai trung đội. Với chiến thuật luồn rừng, leo núi, tấn công nhiều mũi, sục sạo từng bản, từng lũng nhằm đánh úp các cơ quan và lực lượng của ta. Chúng luồn rừng đánh úp một số cơ quan của ta ở Mường Khủa, Bó Bụt. Một bộ phận quân địch vượt sông Đà sang Đức Nhàn (Đà Bắc) càn quét một số bản ven sông.

Lúc này, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất đang diễn ra tại bản Men. Vừa tổ chức Đại hội vừa chỉ đạo chống càn. Tỉnh uỷ Sơn La đã vạch ra các kế hoạch đánh địch, chỉ thị cho các cơ sở triển khai công tác chống càn. Các đại biểu vừa tranh thủ họp vừa tham gia chỉ huy lực lượng vũ trang và dân quân du kích các xã bản, kiên quyết đánh địch.

Ngày 3 tháng 4 năm 1951, trung đội 78 thuộc đại đội 310 phối hợp với du kích Quang Minh, Song Khủa, Mường Tè, Quy Hướng chặn đánh bọn địch từ Suối Rút lên Bản Pảng, sau gần một tiếng đồng hồ ta diệt được 4 tên và làm bị thương nhiều tên khác. Quân địch tháo chạy lên Mường Khoa.

Đại đội 428 phối hợp với du kích bám sát địch, tổ chức phục kích, bắn tỉa ở khu vực Mường Khủa, Bó Bụt, Nà Bai, tại Bó Bụt, một quan hai Pháp bị thiệt mạng và ở Mường Tè 10 lính khố đỏ bị tiêu diệt. Khu vực Mường Khủa ta tiêu diệt 3 lính Pháp. Trước tình thế bị ta liên tiếp tấn công và tiêu diệt nhiều sinh lực, quân địch phải rút lui. Dự đoán chúng sẽ rút từ Nà Bai qua Mường Tè về Tô Múa quân ta gồm hai đại đội chủ lực, một trung đội của huyện Mộc Châu cùng với du kích Mường Tè, Tô Múa, Mường Men tổ chức ở đoạn đường hiểm yếu, ngày 7 tháng 4 năm 1951 gần 200 tên từ Nà Bai lên Tô Múa bị lọt vào trận mai phục. Ta tiêu diệt và làm bị thương 30 tên, trong đó có hai sĩ quan Pháp, phá huỷ 3 súng máy và nhiều lương thực, thực phẩm, địch cướp được của dân.

Các toán địch đi đến đâu cũng vấp phải sự chống trả quyết liệt của dân quân du kích. Với cách đánh linh hoạt, dũng cảm, suốt 17 ngày đêm kiên cường chống càn, quân và dân khu du kích đã chặn đánh trên 30 trận lớn nhỏ, đẩy lùi bước tiến của địch ở tất cả các hướng, gây cho địch nhiều thiệt hại: Hơn 100 tên vừa bị chết và bị thương, trong đó có 5 tên chỉ huy Pháp. Bị thất bại liên tiếp, quân địch buộc rút khỏi các vị trí chiếm đóng ở Mộc Hạ về Mộc Lỵ, Vạn Yên và một bộ phận đóng quân tại Nà Mường. Âm mưu càn quét nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến tỉnh Sơn La của thực dân Pháp bị thất bại. Ta bảo vệ được khu căn cứ và bảo toàn lực lượng, tạo điều kiện thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên trong trận càn này, ta cũng bị thiệt hại: Hy sinh 1 người, bị thương 5 người, mất một số tài liệu của Uỷ ban hành chính kháng chiến, về kinh tế, địch gây cho ta những thiệt hại về hoa màu, nhà cửa và cướp đi gần 100 con trâu, bò.

Mặc dù trong lúc địch tập trung càn quét ác liệt, nhưng đại hội đại biểu tỉnh Đản bộ lần thứ nhất vẫn tổ chức thành công. Đại hội đã đánh giá quá trình vận động và lãnh đạo cách mạng của Đảng bộ từ khi thành lập tới lúc này. Đề ra phương hướng nhiệm vụ, phương pháp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Sơn La trong thời kì tới. Đại hội đã bầu 7 đồng chí vào Ban Chấp hành Tỉnh uỷ và 2 đồng chí uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Bùi Thọ Chuyên được bầu làm Bí thư Tỉnh, đồng chí Trần Quyết được điều động về liên khu Uỷ Việt Bắc. Đồng chí Thường làm Bí thư liên huyện Mộc – Yên.

Tháng 6 và tháng 7 năm 1951, địch lại mở hai cuộc hành quân nhưng tính chất thăm dò lực lượng của ta, phá hoại kinh tế, khủng bố nhân dân và chuẩn bị cho cuộc tấn công mới. Tuy nhiên cục diện chiến tranh giữa ta và địch trên phạm vi toàn quốc đã thay đổi, quân ta đã nắm quyền chủ động trên các chiến trường nên chúng không còn cơ hội để tấn công vào Mộc Hạ. Từ đó căn cứ địa Mộc Hạ và vùng tự do Mộc Châu ngày càng được mở rộng và phát triển.

Bị thất bại liên tiếp trong các cuộc khủng bố khu tự do, nhằm phá vỡ cơ sở của ta nhưng bị ta phục kích, tiêu diệt buộc địch phải thay đổi quân, bổ sung quân số hao hụt, tuyển mộ thêm lính. Đầu năm 1952, chúng tập trung quân đóng ở Mộc Lỵ, Nà Mường, Pa Khôm, Pa Háng, đặt bốt gác ở Cò Nòi và khủng bố phá vỡ cơ sở của ta ở Tú Nang, tăng cường lực lượng ở đồn Pa Khôm, Pa Háng, đặt bốt gác ở Cò Nòi và khủng bổ, phá vỡ cơ sở của ta ở Tú Nang, tăng cường lực lượng ở đồn Pa Khôm, bổ sung quân cho Pa Háng, thay đổi chỉ huy và củng cố đồn Nà Mường. mặt khác chúng tập trung bắt lính, sửa sân bay Mộc Lỵ, xây đắp công sự, sửa đường Mộc Lỵ- Nà Mường, Mộc Lỵ- Sầm Nưa (Lào). Đồng thời mở các cuộc hành quân khủng bố vùng suối Sôi (Đoàn Kết), tung biệt kích, do thám vào Tô Má, Tân Tiến và Xuân Nha nhằm lùng bắt cán bộ và nắm bắt tình hình của ta nhưng đã bị lực lượng du kích kiểm soát và phục kích chặn đánh. Ta tiếp tục mở những cuộc tấn công nhằm tiêu hao sinh lực địch, bộ đội Mộc Châu gồm có đại đội 403 cùng du kích Mộc Thượng, Mộc Hạ, Tú Nang đã phục kích địch trân các con đường chúng thường qua lại, bắn chết và làm bị thương một trung đội địch, thu một trung liên và ba súng trường Mỹ, 54 dù và một số đạn dược quân dụng.

Nhằm tiếp tục củng cố thế và lực, tạo ra những thắng lợi mới, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư Lệnh Tây Bắc nhận định: Tây Bắc là chiến trường miền núi là địa bàn chiến lược quan trọng ở Tây Bắc bộ nước ta, là cầu nối giữa các tỉnh Liên khu III và Liên khu IV. Đặc điểm thế bố trí của địch ở Tây Bắc là ngoài phân khu Nghĩa Lộ, còn lại các phân khu khác hình thành một tuyến chạy dọc đường 41 song song với sông Đà. Bên trong tuyến sông Đà-Đường 41, càng đi sâu về phía Tây, thế bố trí địch càng mỏng, so với chiến trường khác, Tây Bắc là chiến trường địch yếu, sơ hở nhưng lại địa bàn chiến lược hiểm yếu, khi tấn công ta sẽ có lợi thế hơn địch. Từ nhận định đúng đắn trên, Đảng và Bác Hồ đã quyết định một chiến lược mới đó là chuẩn bị tấn công, giải phóng vùng Tây Bắc của Tổ quốc.

Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và giải phóng nhân dân khỏi ách kìm kẹp của thực dân Pháp. Nhận rõ vị trí quan trọng của chiến dịch đối với Sơn La, để phối hợp hành động giữa địa phương và bộ đội chủ lực. Tỉnh uỷ đã ra Nghị quyết “Nhận rõ tình hình, tích cực làm tròn nhiệm vụ”, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ do khu Tây Bắc giao, chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt cho chiến dịch. Tham gia chiến dịch Tây Bắc gồm các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316, Trung đoàn công binh 151 thuộc Đại đoàn công pháo 315, tiểu đoàn 910 (Trung đoàn Sơn La) và 10 đại đội bộ đội địa phương. Riêng Sơn La có 3 đại đội bộ đội địa phương và các đơn vị du kích phối hợp chiến đấu và phục vụ hậu cần.

Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu bằng các trận tấn công của bộ đội chủ lực vào phân khu Nghĩa Lộ, tiểu khu Phù Yên. Sau 11 ngày đêm liên tục chiến đấu, ngày 23 tháng 10 năm 1952, đợt I của chiến dịch kết thúc ta đánh tan đại đội bộ phận địch ở phân khu Nghĩa Lộ và tiểu khu Phù Yên, giải phóng một vùng rộng lớn từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà. Riêng Sơn La từ Vạn Yên lên Quỳnh Nhai.

Sau khi rút kinh nghiệm đợt I và củng cố lực lượng, Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc quyết định bước vào đợt II của chiến dịch với nhiệm vụ vượt sông Đà tiến công khu Tạ Khoa, Ba Lay, Mộc Châu nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở sông Đà, tạo điều kiện giải phóng Sơn La, Lai Châu. Đợt tấn công này ta tập trung 6 trung đoàn: 88, 102 (Đại đoàn 308), 209, 141 (Đại  đoàn 312), 98, 174 (Đại đoàn 316) và đại đoàn công pháo 315.

Ngay khi bước vào đợt II, địch ở đồng bằng tổ chức hành quân lên Phú Thọ nhằm phá vỡ hậu phương của ta, kéo chủ lực của ta ở Tây Bắc về để đối phó. Tuy vậy, cuộc hành quân của địch đã bị bộ đội chủ lực khu 10 và bộ đội địa phương Phú Thọ chặn đứng.

Đêm 17 tháng 11 năm 1952, các đơn vị bộ đội vượt sông Đà, vận động tấn công tiêu diệt đồn bản Hoa (Tân Lập – Mộc Châu), loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch. Đêm 18 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn 141 tập kích đánh tan tiểu đoàn lính Ma – Rốc tại Ba Lay (Qui Hướng – Mộc Châu). Thừa thắng quân ta truy kích địch từ Qui Hướng dọc theo đường 136 lên Phiêng Luông. Vùng Hạ huyện của Mộc Châu hoàn toàn giải phóng.

Đại đoàn 316 có nhiệm vụ tấn công tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu. Mọc Châu là vị trí then chốt hết sức quan trọng, là cửa ngõ tiến vào Tây Bắc và Thượng Lào, vì vậy thực dân Pháp xây dựng các cứ điểm bảo vệ Mộc Châu rất kiên cố. Cứ điểm quan trọng nhất của địch ở cao nguyên Mộc Châu là đồn Mộc Lỵ, án ngữ trên ngã ba đường 41 từ Hà Nội lên Sơn La và từ Mộc qua Pa Háng sang Lào. Đồn Mộc Lỵ được xây dựng trên một ngọn núi đá tai mèo hiểm trở, nhiều vách đá dựng đứng. Từ đây địch có thể quan sát khá xa, dễ dàng phát hiện mục tiêu ở 4 phía. Lợi dụng các mỏm đá nhấp nhô, địch bố trí một hệ thống công sự, lô cốt rất kiên cố, có nhiều tầng hoả lực nhằm phát huy hết hiệu quả của các loại vũ khí, yểm trợ đắc lực cho nhau khi bị tấn công. Hầm chỉ huy và các hầm cố thủ đều được xây dựng bằng bê tông cốt thép. Phía ngoài đồn được bao bọc bởi 4 hàng rào dây théo gai chằng chịt, dưới đất chôn dày đặc các loại mìn. Ngoài khu đồn chính, địch còn xây dựng thêm 2 tháp canh, mỗi nơi có khoảng 1 tiểu đội vừa làm nhiệm vụ tiền tiêu, vừa tạo thế phòng ngự tuyến ngoài. Địch còn tổ chức khu tập trung hàng ngàn gia đình cách phía Tây nam đồn khoảng 500 mét, ngày đêm có lính tuần tra canh gác. Lực lượng địch ở đồn Mộc Lỵ có hơn một tiểu đoàn, cả Tây đen lẫn Tây trắng và lính nguỵ do tên quan ba Pháp Vanh – Xăng chỉ huy. Chúng được trang bị đầy đủ vũ khí cá nhân như tiểu liên, súng cối 81 ly và 60 ly, 3 đại liên, 27 trung liên, chúng còn thường xuyên được bổ xung lương thực, thực phẩm dự trữ và đạn dược đảm bảo cho chiến đấu dài ngày. Đồn Mộc Lỵ được quân Pháp mệnh danh là “Chiếc áo giáp” bất khả xâm phạm ở phân khu Sơn La, tướng Đờ-ly-na-rét đã đích thân tới kiểm tra và giao nhiệm vụ cho sĩ quan, binh lính phải chống giữ đến cùng khi bị tấn công. Bộ chỉ huy quân đội Pháp còn rút nhứng toán biệt kích ác ôn được huấn luyện kỹ từ Phát Diệm (Ninh Bình) lên để tăng cường cho đồn Mộc Lỵ.

Đối với ta, việc chiếm được đồn Mộc Lỵ có ý nghãi rất quan trọng bởi nó khai thông tuyến hậu cần từ Hoà Bình lên. Ngày 17 và 18 tháng 11 năm 1952, các binh đoàn chủ lực của ta đã bí mật đào công sự quanh đồn, chiếm lĩnh trận địa. Các tiểu đoàn 888 và 439 luồn rừng theo dòng suối lên phía tây bắc, hình thành thế bao vây, chặn tiếp viện của địch từ Sơn la xuống. Ngày 19 tháng 11 năm 1952, quân ta xiết chặt vòng vây. Khoảng giữa trưa, một toán lính và ngựa thồ của địch từ Chiềng Ban theo đường 41 về Cò Nòi thu thóc, bị tiểu đoàn 888 chặn đánh và tiêu diệt gọn. Hai toán lính từ đồn chính đi tuần ra phía Tây và phía Tây nam bị ta dánh bật trở lại đồn. Ngay đêm đó ta đột nhập vào trại tập trung đưa gần 1000 dân đến nơi an toàn. Địch báo động toàn khu vực 23 giờ 30 phút ta nổ súng tân công mạnh mẽ vào đồn Mộc Lỵ.

Sau hơn 3 tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, đồn Mộc Lỵ bị tiêu diệt. Ta đánh địch ở đồn Pa Khôm, Pa Háng. Địch hoảng sợ rút chạy lên Yên Châu và sang Lào. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, Mộc Châu hoàn toàn giải phóng. Nhứng trận đánh mở đầu đợt II của chiến dịch vào tuyến phòng thủ cao nguyên Mộc Châu giành thắng lợi to lớn. Sau khi giải phóng Mộc Châu, Đại Đoàn 316 chia làm 3 mũi tiến lên truy kích địch qua Yên Châu – Cò Nòi, giải phóng tỉnh lỵ Sơn La, Thuận Châu. Các mũi tấn công khác vào Mường La, Quỳnh Nhai cũng giành thắng lợi lớn. Quân địch ở các vị trí còn lại trước nguy cơ bị tiêu diệt đều rút về Nà Sản (Mai Sơn), đợt II của chiến dịch kết thúc, tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản) và một số huyện phía nam Lai Châu được giải phóng. Ta bắt và tiêu diệt hơn 3000 tên địch giải phóng 17.700km2 đất đai, nhân dân các dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến.

Bị thiệt hại nặng nề, thực dân Pháp gấp rút củng cố Nà Sản, biến Nà Sản thành cứ điểm mạnh nhất lúc bấy giờ. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản bao gồm 17 cứ điểm liên hoàn với 8 tiểu đoàn lính dù, một tiểu đoàn pháo binh, 8 đại đội độc lập, một tiểu đoàn công binh và có sân bay ở trung tâm. Từ ngày 30 tháng 11 năm 1952, Đại đoàn 308 liên tiếp mở các cuộc tấn công vào Nà Sản nhưng không thành công do ta chưa nắm chắc được tình hình địch và bộ đội ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm lớn, hơn nữa quân chủ lực của ta đã mệt mỏi và thương vong sau hai tháng tiến hành chiến dịch. Ngày 10 tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch.

Chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi, đã giải phóng một vùng đất đai rộng lớn của Tây Bắc (28.500 km2) và 25 vạn dân, tiêu diệt 6000 quân địch, căn cứ kháng chiến được mở rộng, tạo bàn đạp chắc chắn để ta mở rộng hoạt động tác chiến quân sự sang các khu vực Lai Châu và Thượng Lào.

Để giữ vững vùng mới giải phóng và quyết tâm chiến đấu tiến tới giải phóng toàn tỉnh, Sơn La đã kiên quyết hoàn thành kế hoạch xây dựng tiểu đoàn bộ đội địa phương và dân quân du kích; Tích cực chống địch càn quét, lấn chiếm, diệt do thám, gián điệp, tích cực phục vụ tuyền tuyến.

Tháng 4 năm 1953, ta mở chiến dịch Thượng Lào với mục tiêu giải phóng toàn bộ lưu vực sông Nậm Hu từ Phong Xa Lỳ đến Pắc Xèng, đẩy lùi địch vào sát cửa ngõ Luông Pha Băng, nối liền vùng biên giới Tây Bắc Việt Nam với Thượng Lào. Trung đoàn Sơn La đã tích cực, chủ động và chiến đấu anh dũng góp phần tích cực vào chiến thắng Thượng Lào.

Tại Sơn La, phối hợp với chiến trường Thượng Lào, 6 tháng đầu năm 1953, ngoài việc bẻ gẫy nhiều cuộc hành quân càn quét, nhổ các đồn bốt mà địch đánh lấn ra và mới dựng lên ở vùng mới giải phóng, ta còn tiêu diệt nhiều ổ phỉ, biệt kích, do thám trong kế hoạch “hậu chiến”  của thực dân Pháp gài lại mưu toan quay trở lại chiếm Sơn La.

Chiến dịch Thượng Lào thắng lợi đã làm thất bại âm mưu chiếm giữ Nà Sản, cứ điểm Nà Sản được mệnh danh là “con đê ngăn sóng” bị phá sản hoàn toàn. Những nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp nhằm xoay chuyển tình thế ở Sơn La đã bị thất bại. Tháng 8 năm 1953, toàn bộ lực lượng của địch ở Nà Sản rút về đồng bằng, bằng đường không. Các cơ quan lãnh đạo kháng chiến của Sơn La chuyển dần về tỉnh lỵ Sơn La, tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, đưa Sơn La cùng cả nước đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Sơn La đã xây dựng nên căn cứ kháng chiến Mộc Hạ vững chắc, từ đó toàn tỉnh đã dấy lên phong trào xây dựng khu căn cứ rộng khắp, Phía Phù Yên có Mường Do, Mường Bang, Mường Lang, Mường Cơi; Yên Châu có Mường Lựm, Mường Khoa, Tạ Khoa; Mộc Châu có Bản Mòn, A Má, Bó Sập, Chiềng Khừa, Tú Nang; Mai Sơn có Y Lương, Mường Mần, Hát Lót, Mường Sại và phát triển sang sông Mã; Mường La có Mường Bằng, Mường Bú, Mường Chùm và nhiều cơ sở cách mạng ở Chiềng Công, Chiềng Ân, Nậm Păm, Ngọc Chiến; Ở Thuận Châu có Mường É, Long Hẹ, Mường Bám,… Thực tiễn đó đã khẳng định đường lối kháng chiến xây dựng căn cứ địa hậu phương của Đảng là đúng đắn và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử và trở thành lực lượng vật chất to lớn, biến hậu phương của địch thành tiền phương và hậu phương của ta. Căn cứ kháng chiến là sản phẩm tất yếu của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện.

2. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân Sơn La là một bộ phận quant trọng và có vị trí chiến lược trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta nói chung và chiến dịch Tây Bắc – giải phóng Sơn La nói riêng. Mỗi bước phát triển, mỗi một thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên chiến trường cả nước, chiến trường Tây Bắc, chiến trường Sơn La, có tác dụng thúc đẩy, tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển khu căn cứ kháng chiến vùng Mộc Hạ. Đồng thời, mỗi một bước phát triển, mỗi một thắng lợi của khu căn cứ kháng chiến Sơn La đề có ảnh hưởng và tác động đến cục diện chung của cuộc kháng chiến. Thắng lợi mà quân và dân ở khu căn cứ kháng chiến vùng Mộc Hạ nói riêng và toàn tỉnh Sơn La nói chung của những năm tháng kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp có tầm quan trọng và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và đổi mới hiện nay.

Sưu tầm

Hội trường sơ tán Tỉnh ủy

Tên di sản:

Hội trường sơ tán Tỉnh ủy

Địa điểm:

bản Nà Tre, Xã Chiềng Ban, Mai Sơn

Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

1. Tên gọi:  HỘI TRƯỜNG SƠ TÁN TỈNH ỦY

2. Địa điểm phân bố di tích, đường đi đến

– Di tích thuộc bản Nà Tre, xã Chiềng Ban huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.

– Từ ngã ba Mai Sơn ta đi theo đường 13 vào huyện Sông Mã. Qua dốc Bản Mạt khoảng 200m có đường rẻ về phía tay phải đi khoảng 4.000m là tới di tích.

– Đường thứ hai: Từ thị xã Sơn La ta xuôi về phía Hà Nội theo quốc lộ 6 đến km 6 ta rẻ tay phải qua công ty cấp II đi thẳng là tới di tích. Di tích cách quốc lộ 6 khoảng 5.000m.

– Cả hai đường tới di tích đề thuận lợi đi được bằng mọi phương tiện.

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử, thuộc tính di tích

             Từ năm 1963 – 1964 đế quốc Mỹ liên tiếp cho máy bay xâm phạm không phận Sơn La nhằm mục đích hoạt động trinh sát thả biệt kích, thám báo rãi truyền đơn tâm lý chiến, móc nối gây cơ sở phản động ở nội địa tỉnh Sơn La.

            Trước những diễn biến phức tạp của tình hình cùng với đẩy mạnh thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tỉnh ủy đã xác định phải chỉ đạo toàn Đảng coi trọng việc tăng cường công tác an ninh quốc phòng địa phương. Theo sát dự đoán tình hình của Trung ương, tháng 7 năm 1964 tỉnh ủy ra chỉ thị về công tác phòng không nhân dân. Chỉ thị xác định những mục tiêu mà địch có thể oanh tạc là thị xã Sơn La, Cao Nguyên Mộc Châu, các thị trấn, các nông – Lâm trường, trục đường 6 đồng thời đề ra các biện pháp cấp bách là xúc tiến đào hầm hào trú ẩn ở các nơi dân cư và nơi công cộng. Thành lập hệ thống chỉ huy phòng không từ tỉnh xuống huyện và các điểm xung yếu, thực tập phòng không công tác kiểm tra đôn đốc việc thực hiện chỉ thị này được tiến hành gắt gao.

              Đầu năm 1965 thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị Trung ương Đảng. Tỉnh ủy đã mở cuộc chỉnh huấn mùa xuân giáo dục cán bộ, Đảng viên và nhân dân hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ mới. Tháng 2 năm 1965 đế quốc Mỹ mở rộng đánh phá bằng không quân ra toàn bộ các tỉnh khu IV cũ, tỉnh ủy Sơn La đã phân tích tình hình vào ngày 13 tháng 2 năm 1965 ra chỉ thị về tăng cường hơn nữa công tác phòng không nhân dân, chuẩn bị việc sơ tán các trọng điểm, hướng dẫn tổ chức nhân dân phòng tránh máy địch bắn phá.

            Tháng 5 năm 1965 quán triệt Nghị quyết đại hội lần thứ XI của Trung ương Đảng. Tỉnh ủy đề ra nghị quyết về chuyển hướng mọi hoạt động của tỉnh từ thời bình sang thời bình sang thời chiến. Dự đoán âm mưu của đế quốc Mỹ đối với Sơn La. Tỉnh ủy nhận định Sơn La có nhiều dân tộc, trình độ phát triển không đều là thủ phủ của khu tự trị Tây Bắc. Đánh vào Sơn La tức là đánh vào nhân dân các dân tộc trong khu, tiêu diệt sinh lực ta, đánh phá các vị trí quân sự, đường giao thông, các phương tiện vận tải, các cơ sở hạ tầng, cắt đứt liên lạc giữa tỉnh và Trung ương hòng làm đảo lộn cuộc sống, làm giảm sút ý chí đấu tranh của quân và dân ta. Nghị quyết khẳng định quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La kiên trì đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và phải đánh thắng đế quốc  Mỹ trong bất kỳ tình huống đấu tranh nào.

              Đúng như dự đoán của tỉnh , từ ngày 14/6/1965 đến cuối tháng 7/1965 máy bay Mỹ bắn phá chủ yếu vào các thị trấn, thị xã các mục tiêu quân sự và kho tàng, tập trung bắn phá hệ thống cầu cốn, trục quốc lộ 6 và trục tỉnh lộ bắn phá các phương tiện vận tải đường bộ và cả đường sông, bắn phá nhiều lần thị xã  Sơn La và các thị trấn . Cường độ bắn phá của địch dòn dập có tính chất hủy diệt ở các điệm thị xã, thị trấn, cầu cống hiểm yếu trên quốc lộ 6. Có lúc liên tục nhiều tốp máy bay luôn phiên thả bom hòng triệt phá các mục tiêu bị lộ . Tính đến ngày 30/11/1965b (Khoảng 5 tháng rưởi kể từ ngày máy bay Mỹ mở đầu đánh phá Sơn La) chúng đã bắt phá 213 địa điểm với số lượng trên 6.300 quả bom các cỡ, các loại và nhiều tên lửa.

             Do quá trình chuẩn bị ứng phó một cách chủ động và với quyết tâm đánh thắng ngay từ trận. Từ ngày đầu tiên chống giặc Mỹ xâm lược , quân và dân Sơn La đã giáng trả những đòn đích đáng bắn rơi 2 máy bay Mỹ trong trận đầu tiên ngày 14/6/1965 tại huyện Mộc Châu. Với chiến thắng này đã mở đầu cho những trận thắng giòn giã tiếp theo. Đó là các trận đánh vào ngày 20 và 22/6 /1965 tại thị xã Sơn La  băn rơi 7 máy bay Mỹ ngay sau khi quân và dân Sơn La thắng trận ngày 23/6/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện khen ngợi “Bác rất vui mừng trong ngày 14, 20 và 22-6-1965 quân và dân Mộc Châu và Sơn la đã bắt rơi 9 máy bay của Mỹ bắt sống một số phi công Mỹ” thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi bộ đội , đồng bào và cán bộ các dân tộc Tây Bắc đã anh dũng chiến đấu , thắng lợi vẻ vang.

               Lời khen của Bác Hồ được truyền đi nhanh chóng toàn tỉnh có tác động cổ vũ lớn lao khí thế đánh Mỹ của quân và dân các dân tộc Sơn La.

              Trước tình hình chiến tranh ác liệt của đế quốc Mỹ như vậy. Để đảm bảo an toàn của các cơ quan đầu não của tỉnh tháng 6-1965 Tỉnh ủy Sơn La đã quyết định sơ tán các cơ quan của tỉnh về Bản Nà Tre, xã Chiềng Ban huyện Mai Sơn vào tháng 6 – 1965. Lãnh đạo nhân dân các dân tộc Sơn La trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Tại nơi đây tháng 6 – 1965 sau 3 tháng chiến đấu bắn trả lại máy bay Mỹ bằng súng bộ binh, tỉnh ủy Sơn La đã mở hội nghị thi đua “Bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh ở tầng thấp”. Hội nghị đã có ý nghĩa lớn lao, củng cố lòng tin và động viên quân và dân trong tỉnh với ý chí quật cường đánh trả lại những trận xâm lược điên cuồng của kẻ thù. Phong trào thi đua này đã được lan rộng thành phong trào toàn tỉnh.

               Tháng 7 -1967 tại nơi đây diễn ra một sự kiện quan trọng. Đoàn đại biểu tỉnh Đắc Lắc – Là tỉnh kết nghĩa với Sơn La đã đến thăm và làm việc. Đoàn đại biểu tỉnh Đắc Lắc đến thăm Sơn La trong điều kiện chiến tranh ác liệt của đế quốc Mỹ vượt những chặng đường đầy gian khổ đoàn đã mang lại nguồn cổ vũ động viên to lớn cho nhân dân các dân tộc Sơn La. Từ đó nhân dân các dân tộc Sơn La quyết tâm cùng Miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

               Sơn La là trọng điểm bắn phá của đế quốc Mỹ nhân dân các dân tộc Sơn La luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo tạo điều kiện của Trung ương và đồng bào cả nước. Tháng 12 – 1967 Trung ương đã cử đồng chí thượng tướng Chu Văn Tấn thay mặt quốc hội lên thăm và động viên quân và dân tỉnh Sơn La quyết tâm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

              Với khí thế thắng lợi to lớn của quân và dân Miền Bắc trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, cùng với thắng lợi vang dội của  cuộc tổng tấn công nổi dậy đồng loạt tết mậu thân năm 1968 ở Miền Nam đã buộc tổng thống Mỹ Giôn Xơn phải tuyên bố  vào ngày  1 – 11- 1968 rằng Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom phá hoại và mọi  hoạt động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chấp nhận hộ nghị Pa ri giải phóng vấn đề chiến tranh Việt Nam.

               Ngày 3-11-1968 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước anh dũng tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

             Sau 3 năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1966 – 1968) là thời kỳ đấu tranh quyết liệt chưa từng có , quán triệt đường lối đấu tranh chống Mỹ cứu nước và những chủ trương chiến lược của Đảng. Đảng bộ tỉnh Sơn La đã lãnh đạo quân và dân các dân tộc trong tỉnh vượt qua gian nan, thử thách vừa sản xuất vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu và đã dành được thắng lợi hết sức to lớn làm phá sản chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng không quân đối với một tỉnh miền núicó nhiều dân tộc, có vị trí xung yếu về chính trị quốc phòng phía Tây Bắc Tổ quốc. Những thắng lợi cơ bản đó đã tạo ra thế và lực mới của tỉnh để mắm bắt kịp cùng Đảng, toàn dân cả nước đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước tiến lên thời kỳ mới với quyết tâm “Tất cả đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” .

               Tháng 3 – 1969 Bộ chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết chỉ rõ: Khi Miền Nam chưa được hoàn toàn giải phóng, cuộc đọ sức giữ ta và Mỹ tiếp tục diễn ra quyết liệt ở Miền Nam thì Miền Bắc chưa có thể có hòa bình thực sự, phải nắm lấy cơ hội, tranh thủ thời gian khôi phục và phát triểm kinh tế làm cho Miền Bắc lớn mạnh nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu to lớn của tuyền tuyến Miền Nam.

               Nghị quyết của bộ chính trị Trung ương Đảng được tỉnh cụ thể hóa thành chủ trương lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh năm 1969. Duy trì tình trạng sơ tán ở thị xã Sơn La và các huyện lỵ đề phòng âm mưu địch bắn phá trở lại, giữ vững an ninh chính trị góp phần chi viện cho tuyền tuyến lớn. Xây dựng và cũng cố lực lượng gắn với thực hiện những nhiệm vụ trên, xúc tiến chuẩn bị đại hội lần thứ III của Đảng bộ tỉnh.

              Đại hội lần thứ III Đảng bộ sơn la được triệu tập đại hội họp từ ngày 11 đến ngày 25 – 10 – 1969  tại hang Nà Tre hội trường sơ tán tỉnh ủy thuộc bản Nà Tre xã Chiềng Ban huyện Mai Sơn. Có 191  đại biểu thay mặt hơn 1 vạn Đảng viên toàn đảng đã về dự đại hội. Về dự đại hội còn có đoàn đại biểu khu ủy do đồng chí Hoàng Kiểu, ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, bí thư khu ủy dẫn đầu. Đoàn đại biểu tỉnh Lai Châu và đặc biệt có đoàn đại biểu Hua Phăn của Đảng nhân dân cách mạng Lào do đồng chí Phăn Xa Mạy phó bí thư tỉnh ủy dẫn đầu.

             Đại hội đã bầu ra BCH Đảng bộ khóa III gồm 29 đồng chí, Hoàn Nó, Cầm Liên, Chu Mạnh Đức, Lê Lưu, Nguyễn Đính Lực, Pha May Lường Văn Mú, Lê Minh, Lò Văn Sôn, Lò Văn Tấn, Nguyễn Xuân Định Nguyễn Xuân Thường, Bùi Khâm, Lường Thị Đức, Vừ Sếnh Páo, Cầm Kim Cương, Quang Trung, Phạm Thanh, Nguyễn Hữu Tư, Cầm Dịn, Nguyễn Văn Tâm, Hoàng Luông, Nguyễn Phúc Nguyên, Bàn Văm Minh, Ngô Ngọc Nhị…. Đồng chí Hoàng Nó được bầu làm bí thư tỉnh ủy.

              Đại hội III đã tổng kết những thành tựu, những ưu và khuyết điểm rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ từ sau đại hội II ( tháng 10 – 1963) chủ yếu là hơn 4 năm thực hiện nhiệm vụ chuyển hướng phát triển kinh tế, văn hóa từ thời bình sang thời chiến và tiến hành cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.

            Đại hội III Đảng bộ tỉnh là đại hội thể hiện lòng trung thành với lý tưởng cao đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ý chí sắc đá của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La quyết tiến lên sát cánh cùng toàn Đảng  toàn quân đưa  sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn.

            Tháng 12 tại nơi đây tỉnh ủy đã mở hội nghị tổng kết công tác quân sự địa phương và hội nghị tổng kết công tác bảo vệ trật tự an ninh thời chiến chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, nhằm đánh giá đúng những ưu điểm, khuyết điểm thiết thực rút ra những kinh nghiệm cả về công tác lãnh đạo chỉ huy tổ chức xây dựng lực lượng và phát động phong trào quần chúng. Tỉnh ủy đã chỉ đạo mở hội nghị mừng công tác từ cơ sở đến huyện, thị xã các ngành và chung toàn tỉnh cổ  vũ, động viên mạnh mẽ hơn ý chí quyết đánh quyết thắng đế quốc Mỹ của quân và dân trong toàn tỉnh.

            Trong suốt thời gian từ năm 1965 – 1971 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại hang Bản Nà đã diễn ra những kiện quan trọng của tỉnh và là nơi chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân các dân tộc Sơn La đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

4. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật của di tích

              Di tích hội trường sơ tán tỉnh ủy có ý nghĩa lịch sử quan trong, đánh giấu một sự kiện của lịch sử cách mạng tỉnh Sơn La chống lại đế quốc Mỹ xâm lược đến thắng lợi. Tại nơi đây tỉnh ủy cùng với các cơ quan đầu não của tỉnh đã sơ tán trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ từ năm 1965 – 1971 trong suốt thời kỳ đó tại nơi đây đã diễn ra các sự kiện quan trọng với Sơn La.

5. Tình trạng bảo quản di tích

Hiện nay xung quanh di  tích nhân dân dịa phương đã lấn chiếm một phần đất để làm nương và làm nhà ở, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan di tích.

Nền hội trường hang bị sụt lở nhiều.

Một số đoạn gia thông hào bị lấp đất gần hết.

Sưu tầm

Văn bia Quế Lâm Ngự Chế

Tên di sản:

Văn bia Quế Lâm Ngự Chế

Địa điểm:

Tổ 3, Phường Chiềng Lề, Thành phố Sơn La

Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

             Theo quốc lộ 6, cách Hà Nội 320km và Điện Biên Phủ 160km, du khách sẽ tới thị xã Sơn La, một trung tâm của vùng Tây Bắc. Từ ngã tư cầu 308 rẽ tay phải theo đường Chu Văn Thịnh hoặc từ cầu 308 phía đường lên Lai Châu, du khách đều có thể tới được di tích Lịch sử – Văn hoa Văn bia “Quế lâm ngự chế”, di tích nằm bên phía tay phải, cách trục đường Lò Văn Gía 500m. Di tích đã minh chứng cho 1 thời kỳ lịch sử của vị Vua hùng tài, đại lược Lê Thánh Tông cùng quân sỹ đi chinh phạt quân phiến loạn của vùng biên cương phía Tây của Tổ Quốc, giữ bình yên cho cõi nước nhà. Di tích được phát hiện năm 1965 và được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng quốc gia ngày 5/2/1994.

            Từ khi nhà nước giành được quyền độc lập, tự chủ năm 938, các Vường triều phong kiến đã tỏ ra rất quan tâm đến Sơn La và miền Tây Bắc, đánh giá đúng tầm quan trọng, khả năng kinh tế và vị trí chiến lược của khu vực này, là một bộ phận lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất, lịch sử đã chứng minh cho sự mất còn của Tây Bắc hoàn toàn phụ thuộc vào sự mất còn của đất nước. Khi chính quyền Trung ương lớn mạnh thì miền này được ổn định, khi chính quyền suy yếu thì thế lực phong kiến Lào, Trung Quốc, Thái Lan lập tức kéo vào, uy hiếp nhân dân các dân tộc phải chịu cảnh lầm than. Tính thống nhất đó là cơ bản, xuyên suốt quá trình lịch sử và ngày càng được củng cố vững chắc hơn. Nguyễn Bá Thông, 1 quan chức thời Trần đã đánh giá đây là:

          ” … Quan ải Ai Lao, liên lạc tiện đường, biên giới Vân Nam, khống chế mọi mặt …

          …. Là nơi suy yếu của trăm man, cửa ngõ sáu chiếu…

          … Chẽ giữ các trấn, như dậu như phên, án ngữ miền thượng du làm then, làm chốt…

          … Thật là phủ kho ngoài biên giới cuốc gia, là nơi chứa chất ngàn vạn châu báu…”

          Sang thời Lê Sơ, Nguyễn Trãi trong “Dư địa chí” đã nhận định: “Miền này là phên dậu thứ 2 ở Phía Tây”. Thời Hậu Lê, Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng nhận xét: “Đây là vùng núi hiểm trở, có thể làm căn cứ, nguồn lợi rồi dào, lúc nào cũng sung túc, là nơi xung yếu của miền thượng du…”

          Nằm ở vị trí chiến lược khá quan trọng, Sơn La, Tây Bắc luôn được các triều đại phong kiến đánh giá đúng đắn và quan tâm tới mọi biến động vùng biên giới Việt – Lào. Từ thời Lý đã có chủ trương phòng bị từ xa, sử cũng ghi lại rằng: Hàng chục lần Vua Lý cùng các tướng giỏi cất quân đi chinh phạt ở biên giới Phía Tây. Thời Trần cũng nối tiếp chính sách Thời Lý, có tới 9 lần đi chinh phạt vùng này, thời Lê Sơ, chỉ trong 3 triều Vua: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Thánh Tông đã có tới 8 lần dẫn quân đi chinh phạt và cũng chỉ sang thời Lê Sơ với chính quyền Trung ương vững mạnh do Lê Lợi xây dựng nên miền Tây Bắc mới thực sự khuôn mình vào lãnh thổ Việt Nam. Mở đầu cuộc chinh phạt Đèo Cát Hãn ở Mường Lay của Lê Thái Tổ (1430 – 1431) và chinh phạt tù trưởng Thượng Nghiễm ở Mường Muổi (1440 – 1441) của vua Lê Thái Tông, từ đó các tù trưởng Tây Bắc mới thường xuyên về chầu Vua Lê và giúp Triều đình phong kiến bảo vệ vùng biên giới ở phía Tây Bắc Tổ Quốc.

          Những dấu tích của quá trình đựng nước và giữ nước của dân tộc ta tồn tại trên mảnh đất Sơn La đã minh chứng cho tầm quan trọng của mảnh đất phên đậu này, di tích Lịch sử – Văn hóa Văn bia Quế Lâm Ngự Chế là một trong những chứng tích đó.

          Di tích nằm ngay trung tâm thị xã Sơn La, miền đất này trước đây thuộc Châu Mường La, được hình thành từ thời Ta Lếnh (Thế kỷ 14) nhưng tên gọi Mường La xuất hiện từ thế kỷ 12, đến đời thủ lĩnh Bun Phanh (Thế kỳ 18) Thì Mường La đã nổi tiếng khắp 16 Châu Mường Thái. Đó là một địa bàn lớn nằm gọn trong thung lũng của con suối Nậm La, từ Hua La (đầu Mường La) tới Nà Mường (cuối Mường La). Đây là thung lũng khá bằng phẳng, có núi bao quanh và trên cánh đồng vẫn dải rác những quả núi nhỏ. Mường La được chia làm 2 trung tâm chính: Trung tâm thứ nhất là: Chiềng Căm gồm các bản: Pột, Là, Chậu, Nà Coóng… Các bản này chung một cánh đồng “Tông Chiêng Căm” (Cánh ruộng lớn) và dùng chung một nguồn nước là suối Nậm La; Trung tâm thứ 2 là Chiêng An gồm: Các bản: Cọ, Hài, Bó, Cá, Hìn… có thung lung Bó Cá và cánh đồng “Tông Chiêng An” rộng lớn, dùng chung nguồn nước Bó Cá. 2 trung tâm và 2 cánh đồng rộng lớn này là 2 vựa lúa của Châu Mường La. Cư dân Mường La là người Thái Đen bản địa và một số người kinh sống đan xen.

          Di tích Lịch sử – Văn hóa văn bia Quế Lâm Ngự Chế còn được nhân dân gọi là “Thẳm Báo Ké” (Hang trai già). Hang có tên gọi như vậy do một câu chuyện truyền thuyết kể lại rằng:

          Ngày xưa có một gia đình rất nghèo khổ, cơm không có ăn, áo không có mặc, gia đình có một người con trai đã đến tuổi lấy vợ nhưng vì nghèo quá không có của, không lấy được vợ, tuổi ngày càng cao, chàng trai xấu hổ bỏ nhà ra đi để kiếm ăn qua ngày. Một hôm đi ngang qua núi, thấy có một cái hang, vào trong thấy phong cảnh hữu tình, khí hậu mát mẻ, trong hang lại có nước liền chọn chỗ đó làm nhà ở cho mình. Một ngày kia do số phận dun dủi, anh ta gặp được một cô gái cao tuổi nhưng cũng chưa có chồng, thấy người cùng cảnh ngộ với mình liền rủ lên ở cùng. Năm tháng trôi đi, gia đình chàng trai và cô gái tìm khắp nơi mà không thấy 2 người đâu cả, một hôm họ kéo lên núi, vào hang, thấy 2 người đang ngồi tình tứ ở cửa hang, cô gái thấy đông người xấu hổ liền bỏ đi mất, chàng trai vẫn ở đó một mình cho tới già. Từ đó dân địa phương gọi đó là hang trai già “Thẳm Báo Ké” ngoài ra dựa vào hình dáng của hang nên còn gọi là Thẳm Mỏ Tóm (Hang nồi đồng).

          Với ý thức trân trọng giữ gìn bảo vệ di tích và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam và cũng là tôn thờ một vị Vua có công lớn với mảnh đất Sơn La. Để tìm hiểu công đức của Vua Lê Thái Tông, xin mời du khách hãy cùng trở lại dòng lịch sử hơn 500 năm về trước, thế kỷ 15, kỷ nhà Lê “Thái Tôn Văn Hoàng Đế” mà lịch sử gọi là thời Lê Sơ.

          Vua Lê Thái Tông tên Húy là Nguyên Phong là con thứ của Vua Lê Thái Tổ (Lê lợi) và mẹ là Cung từ Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Trần, người Hương Quần Lai, Huyện Lôi Dương (Nay là Thọ Xuân – Thanh Hóa).

          Vua sinh ngày 20 tháng 11 mùa đông năm Qúi Mão (1423) Ngày 3 tháng 3 năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) được sách phong làm Lương quận công. Ngày 6 tháng giêng năm Thuận Thiên thứ 2 (1429). Được lập thành Hoàng Thái Tử. Ngày 8 tháng 9 năm Thuận Thiên thứ 6 (1433) lên ngôi Hoàng Đế, lấy năm sau làm niên hiệu Thiệu Bình năm thứ nhất (1434) đến năm thứ 7 đổi niên hiệu là Đại Bảo (1440) Lấy hiệu là “Quế Lâm Động Chủ” nối tiếp hiệu là “Lam Sơn Động Chủ” của vua cha Lê Thái Tổ. Ở ngôi được 9 năm (1433 – 1442) đi tuần thú trên miền Đông (Chí Linh – Hải Dương) rồi băng hà, hưởng thọ 20 tuổi, táng ở Hựu Lãng – Lam Sơn – Thanh Hoa. Sử sách ghi lại rằng “.. Vua Lê Thái Tông là người hùng tài, đại lượng, cương đoán, làm được việc. Khi mới lên ngôi ra sức cầu trị định chế độ, ban sách vở, đặc lễ nhạc, sáng suốt việc chính, cẩn thận việc hình, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ, trong nước đều biến đổi lớn…”

          “… Vua lên ngôi, nối vận thái bình, bên trong chỉ huy được quần thần, bên ngoài dẹp được các nưics di dịch quấy nhiễu, trọng đạo, sùng nho, mở khoa thi xét tuyển nhân tài, xét tù tử ngục phần nhiều khoan dung xá tội, là bậc vua giỏi thủ thành…”.

          Từ khi lên ngôi, Vua Lê Thái Tông rất chú ý tới Miền Tây Bắc, miền đất phên dậu của Tổ Quốc. Để củng cố và đảm bảo sự thống nhất Quốc Gia, cũng như các vị vua khác và Vua Lê Thái Tổ, trong 9 năm trị vì đất nước, vua Lê Thái Tông đã 2 lần chỉ huy quân sỹ lên Miền Tây Bắc dẹp bọn phản nghịch. Tháng 3 năm Canh Thân (1440) Vua Lê Thái Tông lần đầu tiên thân chinh cùng quân sỹ lên trấn miền Tây đi đánh thổ quân phản nghịch tên là Thượng Nghiễm ở Châu Mường Muổi (Nay là huyện Thuận Châu – Tỉnh Sơn La) tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ nên quân của triều đình đã nhanh chóng dẹp an bọn phản loạn. Trên đường về nhà vua cùng quân sỹ nghỉ chân tại Động La (Thẳm báo ké) Vua thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, với ý nghĩa sâu xa và tâm hồn thanh thản, nhà vua đã để lại bài thơ và lời tựa gồm 14 dòng, mỗi dòng 10 chữ với 140 chữ Hán có nội dung như sau:

          “Quế lâm Động chủ Ngự chế

          Thuận Mỗi châu nghịch tù trưởng Thượng Nghiễm vong ân bội nghĩa, xuất chúng tòng Ai Lao tắc nghịch, dư thân đổng lục chinh chính kỳ tội, chỉ cố chi gian thiêu hủy lưỡng trạng, sơn nhai, đoạt kỳ tình truyền. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, tiến tượng ngật hàng, dư linh kỳ vô bặc, vô nhung. Bất nhẫn tận lục, nãi xã quyết tội ban sư nhi hoàn lưu đế nhất rương vân:

Bình Chẩm lưu tâm viễn nhân

Man tù hà sự tốc vong thân

Thế gian nhược hữu anh hùng chủ

Thiên hạ thùy dung phản nghịch thần

Ô đạo duyên vân không thị hiểm

Âm nhai rương noãn kỉ diệu xuân

Cách trừ ô nhiễm an dân thiện

Nhẫn sử hà mạnh ngoại chí nhân.

Đại Bảo nguyên viên quí xuân

Trung hoàn cát nhật”

Dịch nghĩa:

Bài thơ Quế Lâm động chủ ngự chế”

          Tư tưởng Thuận Châu là Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa, đem quân theo người Ai Lao làm phản. Thân chinh điều khiển sáu quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng. Ta thương nó quì bò không vũ mang khí, không nỡ chém bèn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về để lại một bài thơ rằng:

Nghĩ tới người xa đêm khổ thân

Thổ tù sao lại dám quên thân

Thế gian đã có anh hùng chúa

Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần

Đường xá khó khăn đừng cậy hiểm

Hang cùng đá ấm áp hơn xuân

Yên được dân lành nhơ nhớp hết

Dân xa được hưởng tấm lòng nhân.

(năm đầu niên hiệu Đại Bảo

Canh Tuất 1440, ngày lành giữa tháng 3)

          Đúng 1 năm sau, tháng 3 năm 1441 vua lại kéo quân lên dẹp loạn Nghịch Nghiễm ở Châu Mường Muổi, đi đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng, giúp đỡ vì vậy quân của triều đình đã nhanh chóng bắt được tướng Ai Lao là Đạo Mông và vợ con hắn tại Động La đồng thời bắt được con của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội. Dải đất biên cương phía Tây của Tổ Quốc đã được bình yên. Tên của di tích này chính là tên của bài thơ trên vách đá.

          Tới hang du khách thấy ngay bài thơ và lời tựa được khắc trên vách đá phẳng, dựng đứng trước cửa hang. Từ cửa hang tới văn bia cao khoảng 5m, văn bia có chiều cao 0,8m, rộng 1,2m được khắc nét nhỏ, sâu theo kiểu chữ chân, văn bia không trang trí hoa văn, chỉ có hai vạch khắc chìm chạy xung quanh bài thơ. Trải qua hơn 500 năm dãi dầu mưa nắng và biến thiên của lịch sử bài thơ vẫn còn rõ nét, vách đá quay hướng Đông hàng ngày được đón những tia nắng ban mai của ngày mới, văn bia nằm giữa dòng nước chảy nên tuy có bị bào mòn nhưng mặt bia trắng sạch, rõ nét, không hề rêu phong. Trong tất cả các tài liệu lịch sử và văn học của nước ta từ trước tới nay, chưa có một tác phẩm nào viết lại nộ dung của bài thơ này, bài thơ cho ta biết rõ được niên đại lịch sử và lý do Vua Lê Thái Tông lên vùng đất Sơn La. Việc phát hiện ra văn bia không những có ý nghĩa sâu sắc về mặt lịch sử mà còn có giá trị về văn học.

          Ngoài ý nghĩa về mặt lịch sử, di tích còn là một thắng cảnh đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Đứng trước văn bia, phóng tầm mắt ra phía trước, du khách có thể bao quát gần hết khung cảnh của thị xã Sơn La. Dưới độ cao 60m là cánh đồng “Tông Chiêng An” rộng lớn, một trong hai vựa lúa của Châu Mường La. Giữa cánh đồng là con suối Nậm La uốn mình như dải lụa trắng ngày đêm cần mẫn bồi đắp phù xa cho cánh đồng. Xa xa là 3 ngọn núi trùng điệp: Pu Mạ Đón (núi ngựa trắng), Pu Hai (núi hài), Pu Sam Sảu (núi chân kiềng), Pu Ngua (Núi Bò) và Pu Cọ (núi cọ) tạo thành hình vòng cung bao bọc, ôm ấp cho trung tâm của Châu Mường La xưa. Dưới núi Hài, núi Cọ là những nếp nhà sàn của đồng bào Thái đầm ấm nằm kề bên nhau. Chếch bên phải một chút là Noong Luông (Hồ lớn) tương truyền đây là hồ do phìa tạo bắt nhân dân đào để nuôi cá, tạo cảnh đẹp phục vụ cho tầng lớp phong kiến quí tộc xưa. Nước hồ do nguồn nước Bó Cá (Nước hang ngầm) chảy vào bốn mùa trong xanh, giữa hồ là một hòn đảo nhỏ, theo truyền thuyết thì đây là nơi đánh nhau của một con gà và một con quạ để tranh giành quyền lực, hai con đánh nhau quyết liệt, bất phân thắng bại, cuối cùng cả hai đều chết, dấu ấn của cuộc giao tranh này tạo thành một hòn đảo nhỏ và hồ còn có tên là Noong Ca Noong Cáy (Hồ quạ, hồ gà). Hiện nay đây là hồ lớn nhất của thị xã tạo cảnh quan đẹp và còn là nơi cung cấp nguồn thủy sản lớn.

          Hang bia nhô ra từ một dãy núi gồm có 2 ngọn đó là: Pu Luông (Núi rồng) là đỉnh cao nhất của thị xã, Pu Luông giống hình dáng của một con rồng đang chầu, đầu vươn cao, tay vuốt dâu, thân uốn thành 5 khúc, nối tiếp đuôi rồng là ngọn Pu Cang (Núi Cằm) 2 ngọn núi chạy dài tạo thành bức tường vững chắc che chắn cho sự bình yên của mảnh đất này. Rẽ tay trái men theo sườn núi trên con đường uốn lượn khoảng 500m du khách sẽ thưởng thức vẻ đẹp của di tích “Thẳm Tát Toong” (Hang thác vông). Một thắng cảnh nổi tiếng của thị xã Sơn La đã được xếp hạng cấp Quốc gia. Rẽ tay phải ta sẽ nhìn thấy khu đồi Khau Cả, nơi có di tích Nhà ngục Sơn La, nơi giam cầm đày ải hàng ngàn chiến sỹ cộng sản thời kỳ (1930-1940) đó cũng là trường học đấu tranh cách mạng, nơi ươm những hạt giống đỏ đầu tiên của vùng núi Tây Bắc. Dưới chân Núi Cằm là khu dân cư, công sở được xây dựng theo trục đường Tô Hiệu, Lò Văn Gía, Chu Văn Thịnh, với những ngôi nhà cao tầng khang trang sầm uất tạo nên một đô thị mới, một thị xã văn minh hiện đại trong vùng đất Sơn thủy hữu tình của Châu Mường La xưa.

          Sau khi đọc văn bia, ngắm bức tranh thủy mạc của thị xã Sơn La, mời du khách vào thăm Thẳm Báo Ké. Cửa hang ở dưới chân văn bia, xuống 10 bậc đá là tới hang. Vào tới cửa hang du khách sẽ cảm thất nhẹ nhàng bởi khí hậu mát mẻ, hang thoáng rộng, cảnh đẹp mà thiên nhiên tạo nên, du khách sẽ mặc sức tưởng tượng. Ngay cửa hang là một ao sâu được tạo bởi những vỉa đá, giữa ao là một khối đá hình con các sấu đang vươn lên đớp mồi, trên bờ ao là một chú khỉ đang đùa nghịch và một chú ếch đang trầm tư suy nghĩ. Qua ao vào trong lòng hang, hang rộng 5m dài 20m, cao 6m, trần hang là những nhũ đá rủ xuống tạo thành những dàn đèn lấp lánh, nhìn sang tay trái là những vỉa đá vôi tạo thành những nhũ đá liền nhau giống như 1 đoàn quân trùng điệp. Bên phải là đụn thóc khổng lồ được tạo bởi những nhũ đá như những bó lúa vàng xếp tầng tầng lớp lớp thể hiện sự no ấm của muôn dân. Men theo tay phải của cây thóc lên cao khoảng vài bước là những giếng trời và bồn nước được tạo bởi những nhũ đá uốn cong mềm mại vào mùa mưa những bồn nước này đầy ắp, trong suốt làm cho du khách sẽ liên tưởng tới nơi tắm của các tiên nữ. Trên đỉnh cây thóc là một khối đá hình quả chuông treo lơ lửng, khi gõ sẽ phát ra âm thanh trầm ấm. Dưới chân của những đụm thóc là những thửa ruộng bậc thang, phù xa mầu mỡ. Cạnh đụn thóc là một cối đá nối từ trần hang xuống tận nền hang gọi là cây vàng, cây bạc, phía trước là đôi nhũ đá trông như đôi bầu sữa mẹ nhỏ nước tí tách suốt ngày đêm. Vào tới giữa hang, rẽ hai bên phải trái đều có 2 ngách hang sâu khoảng 3m thẳng cửa hang vào trong cùng là vách đá dựng đứng, có vài bậc đá gọi là đường lên “thiên đàng”, trần hang là hình ảnh của các nàng tiên đang bay lượn. Cảnh đẹp trong hang như qui tụ được vạn vật trên mảnh đất này, nó càng được trau chuốt, kỳ ảo hơn khi tia nắng ban mai chiếu vào làm cho các nhũ đá lấp lánh, sinh động. Di tích Quế Lâm Ngự Chế là một di tích có giá trị lịch sử – văn hóa. Đến với di tích chúng ta sẽ hiểu thêm về công lao của vụ vua trẻ tuổi Lê Thánh Tông và quân sỹ của ông, nhắc nhỏ mọi người về quá khứ vẻ vang, biết ơn những người đi trước đã làm nên sức sống của một vùng đất cho những thế hệ mai sau.

          Ra khỏi cửa hang, rẽ tay phải khoảng 200m du khách sẽ tới Đền Vua Lê Thái Tông. Ngôi đền được khởi công xây dựng tháng 9 năm 2001 và khánh thành vào 22 tháng 1 năm 2003. Để ghi nhớ công đức của Vua Lê Thái Tông và để di tích mãi mãi trang nghiêm, tỏa sáng trong lòng các thế hệ nối tiếp, đáp ứng 1 phần tín ngưỡng lành mạnh, nguyện vọng của đông đảo nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Đền được xây dựng theo hướng Nam Chếch Đông, xây theo thế “Tiền giang hậu trẩm” lưng tựa vào núi Cằm tạo sự vững chắc thế uy nghiêm cho ngôi đền, trước mặt là dòng Nậm La hiền hòa. Đền xây hướng Nam đón được những cơn gió mát mẻ mùa hè, song lại tránh được những đợt gió bấc của mùa đông, đồng thời chếch một chút Đông nên đón được những tia nắng ban mai, thứ ánh sáng thuần khiết của nguồn năng lượng vũ trụ, đó là dương khí của đất trời.

          Đền được xây dựng trên diện tích 800mtheo lối kiến trúc của những ngôi đền cổ ở Việt Nam gồm các hạng mục: Cổng tam quan, sân đền, nhà tả hữu mạc, tòa đại bái và hậu cung.

          Cổng tam quan có 3 cửa: 1 cửa chính, 2 cửa phụ, kiến trúc 2 tầng 8 mái, 8 góc mái trang trí hoa văn ngọn trúc uốn cong mềm mại, mái ngói mũi hài lợp theo lối âm dương, ở dưới là ngói âm hình chữ nhật có trang trí hoa văn chữ thọ lồng trong bông hoa cúc, ở trên là ngói dương hình mũi hài cong mái được lợp san sát theo từng dẫy, theo lối cài răng lược trong lấp lánh như vẩy cá. Trên nóc có lưỡng kìm kẹp nóc chầu mặt nguyệt thể hiện sự chắc chắn, sức mạng. Ngoài chính cổng tam quan là tên đền với 4 chữ Hán đắp nổi “Quế Lâm linh tự” (Đền thiêng Quế Lâm) hai bên góc tường là 2 cột đồng trụ có trang trí tứ phượng chầu về tứ phương Đông – Tây – Nam – Bắc, biểu tượng này hàm ý lực của 4 phương được truyền qua cây cột này. Nó mang tính chất như góp thêm nguồn sinh lực vũ trụ để tăng thêm quyền uy và sức mạnh của các thần linh được thờ ở đây. Phượng là chúa của các loài chim gắn với tầng trên, nó là con vật thiêng xuất hiện trong đền thờ của người Việt. Chúng được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Đầu phượng là công lý, mắt Phương là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cỏ cây, chân là đất do vậy Phượng là tượng trưng của vũ trụ, hình Phượng bay tượng trưng cho vũ trụ đang chuyển động.

          Qua cổng tam quan du khách vào tới sân đền, sân đền có diện tích 162mlát bằng gạch vuông, 2 bên có 2 nhà tả hữu mặc được xây theo kiểu lưỡng hồi bít đốc, lợp ngói mũi hài, đầu nóc có đắp hình nắm cơm. Nhà xây 3 gian, là nơi đón tiếp khách, nơi nghỉ chân và sắp lễ trước khi vào đền. Hết sân đền qua 7 bậc gạch lên tới sân của tòa đại bái, sân có 1 con rùa lớn đội lư hương. Rùa là con vật trong tứ linh, nó là con vật thật song nâng lên thành con vật vũ trụ, linh thiêng, nó mang tư cách như một vị thần gắn với đền thờ, ý nghĩa linh thiêng của rùa được kết tụ lại phù hợp với ước vọng của nhân dân ta, rùa còn có tuổi thọ rất cao nên nó biểu hiện cho sự trường tồn, bền vững, rùa còn gắn với giáo lý nhà phật, rùa đội bát hương để du khách cáo phép trước khi vào đền.

          Tòa đại bái được xây dựng vuông góc với hậu cung của đền, hai công trình này là phần kiến trúc chính của ngôi đền. Tòa đại bái có diện tích 136mgồm 3 gian, 2 trái là nơi du khách hành lễ. Toàn bộ mái lợp bằng ngọn mũi hài theo lối âm dương, 4 góc là 4 đầu đao cong vút có trang trí đầu rồng cuốn thủy và ngọn trúc, biểu hiện của tứ phủ anh linh, đầu đao làm tăng thêm sự thoáng đãng và thể hiện vẻ đẹp của kiến trúc.

          Trên bờ nóc có đắp nổi 2 con rồng chầu mặt nguyệt, 2 đầu có lưỡng kìm kẹp nóc. Rồng nằm trong bộ tứ linh được coi là con vật linh thiêng nhất và có quyền lực vô biên. Rồng là con vật hư cấu song gắn với quyền uy thiên tử. Rồng có mặt trong các đền, chùa là biểu hiện cầu mong ước mơ cho các vị thần trong ngôi đền có quyền lực vô biên để đáp ứng mọi lời cầu khẩn và ước mong của du khách. Hình tượng lưỡng long chầu nguyệt mang biểu tượng cho bầu trời, vũ trụ và nguồn sinh lực vũ trụ. Hai đầu hồi nhà có trang trí hổ phù án ngữ đắp nổi: Hổ phù mắt tròn Lồi, miệng nhé răng lớn, tóc xoắn đuôi nheo, sừng nai, tai thú, má bạch, hàm mở rộng ngậm chữ thọ thể hiện sự may mắn, cầu mong sự sung túc. Trên bờ nóc, bờ guột trang trí hoa chanh là biểu tượng của mặt trời và các vì tinh tú. Ở 4 góc gấp của bờ guột có trang trí hình 4 con ghê đắp nổi đang trong tư thế bò ra thể hiện quyền y nắm giữ, kiểm soát tâm hồn của kẻ hành hương, loại bỏ những điều xấu xa, độc ác, tà tâm của khách thập phương ra khỏi vùng đất của di tích trước khi họ đặt chân vào đền làm lễ.

          Tòa đại báo có 3 cửa: 1 cửa chính, 2 cửa phụ làm bằng gỗ lim có trang trí hình sao 8 cánh. Trong tòa đại bái có 8 cột chính đổ bê tông cốt thép, 2 cột cạnh cửa chính được trang trí rồng quấn cột, vờn mây theo xoáy trôn ốc, đắp nổi. Đôi rồng ở hai cột trang trí màu sắc khác nhau thể hiện cho rừng và biển. Ngoài ra trên các xà dọc, xà ngang, đòn bẩy, xà kẻ đều được trang trí rồng, đầu lân đắp nổi. Tòa đại bái có ba gian thời chính và 2 ban thời phụ, mỗi ban thờ đều có bức võng, ân thư, đồ thờ, hoành phi câu đối được làm bằng gỗ sơn những con vật gắn với tâm linh của người Việt. Ở gian chính giữa đặt bộ bát bửu và chấp kích nó là biểu tượng cho những báu vật linh thiêng của vị thần trong ngôi đền, nó cũng được coi như binh khí thần diệu giúp cho vị thần cai quản miền đất thiêng và ban phát nguồn sức mạnh, tài lộc cho khách hành hương. Cung giữa thờ “Hội đồng triều Lê” tức là thờ các vị vua và quân sỹ của triều Lê. Bức hoành phi có nội dung “Quần thần khánh hội” nghĩa là: ” Vua tôi hội ngộ” ý nghĩa của bức hoành phi này là: “Nơi vua tôi cùng hội ngộ, nơi vua sáng tối hiền gặp gỡ”. Đôi câu có nội dung:

          “Hội Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Vu Nhất Thân, dữ thiên địa chuẩn

          Yết, thi, thư, lễ, nhạc ư vạn thế, vi chân đế vương”

Dịch nghĩa:

          ” Hội đủ sự tốt đẹp của các vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang vào một mình, xứng đáng là chuẩn tắc của đất trời.

          Nêu cao thi, thư, lễ, nhạc suốt muôn thủa, xứng đáng là bậc chân chính đế vương”

          Đôi câu đối này ca ngợi vua Lê Thái Tông là người hội đủ sự tốt đẹp của các vị vua hiền trong lịch sử Trung Quốc như: Nghiêu, Thuân, Vũ, Thang là những vị vua mẫu mực mà nho giáo ca ngợi, ông là một trong những vị vua chân chính của triều Lê bên cạnh các vị của vua hiền tài như: Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông.

          Cung tả (Bên trái) thờ thành hoàng tức là thờ Vua Lê Thái Tông, người có công lớn với vùng đất này. Nội dung bức hoành phi là “Đương cảnh Thành Hoàng” nghĩa là: “Là vi dương cảnh Hoàng Thành”.Đôi câu đối có nội dung:

          “Hữu triệu đạo hồng đồ chi công, linh miếu sang tu Tân Tụ tuế:

          Vị khai thác cương thổ chi nghiệp, phương dân hoàn tất Nhâm Ngọ niên”

          Dịch nghĩa:

          ” Có công xây dựng cơ đồ, miếu thiêng được khởi công và năm Tân Tỵ (2011)

          Có sự nghiệp mở mang bờ cõi, nhân dân địa phương hoàn thành ngôi đền này vào năm Nhâm Ngọ (2002)”

          Đôi câu đối này ca ngợi công đức của Vua Lê Thái Tông thật là to lớn, người xứng đáng được nhân dân phụng thờ, ngôi đền thiêng được khởi công vào năm Tân Tỵ (2001) và khánh thành vào năm nhâm ngọ (2002) để đánh dấu thời điểm ra đời của ngôi đền và công sức đóng góp của nhân dân địa phương.

          Cung hữu (Bên phải) thờ “Sơn thần bản thổ” tức là thờ các vị thần linh được giáng xuống cai quản miền đất thiêng. Bức hoành phi có nội dung: “Sơn nhạc giáng thần” nghĩa là: “Núi thiêng giáng xuống thần linh”. Đôi câu đối này có nội dung:

          ” Vũ trụ biệt thành, Nam thiên nhất trị thăng bình hội

          Cung đường như kiến, Tây địa thiên thu thượng đẳng thần”

          Dịch nghĩa:

          ” Một cõi vũ trụ riêng, trời Nam mở hội thăng bình trị

          Nhìn cung miếu như được gặp, miền Tây muôn thủa là bậc Thường Đẳng phúc thần”

          Đôi câu đối này ca ngợi nhà vua xây dựng nước Nam thành bờ cõi riêng, mở một thời kỳ thịnh trị cho nước Nam ta. Mọi người tới đây chiêm bái nơi thờ ngài như gặp lại con người và công lao của ngài, ngài xứng đáng là bậc thượng đẳng phúc thần ở miền Tây Bắc của Tổ Quốc.

          Phần hậu cung gồm một gian xây vuông góc với tòa Đại bái, trong hậu cung đặt tượng vua Lê Thái Tông và bài vị thờ ngài.

          Đến “Quế Lâm Ngự Chế” và “Quế Lâm Linh Tự” du khách được ngắm bức tranh sơn thủy hữu tình của Châu Mường La xưa và sự sầm uất khang trang của thị xã Sơn La hôm nay. Thắp một nén nhanh tưởng nhớ công đức của nhà vua và quân sỹ của ông, du khách sẽ cảm thấy thanh thản trước bức tranh thiên nhiên muôn màu sắc, gửi gắm một chút lòng mình vào chốn linh thiêng.

          Đến với Sơn La, thăm các di tích lịch sử nổi tếng, tắm suối nước nóng và mời du khách nghỉ lại thưởng thức những điệu xòe, điệu khắp làm say đắm lòng người, thưởng thức nền văn hóa ẩm thực đậm đà truyền thống của dân tộc Thái, với rượu cần, cơm nếp dẻo, cá nướng thơm sẽ làm hài lòng và níu chân du khách khi tới thăm Sơn La. Trong một tương lai gần du khách sẽ được thăm quan thủy điện Sơn La- công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á.

Sưu tầm

Văn bia lưu niệm đoàn 83 quân tình nguyện Việt Nam

Tên di sản:

Văn bia lưu niệm đoàn 83 quân tình nguyện Việt Nam.

Địa điểm:

bản Áng, xã Đông Sang, Mộc Châu

Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

I.  ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ DI TÍCH, ĐƯỜNG ĐI ĐẾN

– Di tích nằm trên gò đồi thấp (tên địa phương thường gọi Sặn Co Pho có nghĩa là gò Cây Đa). Thuộc bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

– Từ ngã ba quốc lộ 6 theo đường vào UBND huyện ta đi khoảng 3km là tới di tích.

– Đường đi tới di tích đi được bằng mọi phương tiện.

II.  SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ THUỘC TÍNH CỦA DI TÍCH

             Cách mạng tháng 8 bùng nổ như sự đổi đời cộng đồng người Việt cùng với nhân dân Lào nhất tề nổi dậy giành chính quyền trong tay người Nhật. Đem lại độc lập tự do cho nước Lào anh em. Đến tháng 3 năm 1946 tình hình cách mạng lào có sự thay đổi, quân Pháp quay lại xâm lược nước lào. Với dã tâm muốn cướp lại nước Lào của thực dân Pháp. Chúng đã chuẩn bị lực lượng khá mạnh và dựa vào quân Anh để đánh chiếm nước Lào.

            Trước tình hình đó, chính quyền cách mạng Lào và Xứ Ủy Ai Lao, Tổng hội Việt Kiều cứu quốc đã tổ chức cho nhân dân tản cư sang Thái Lan để đảm bảo tính mạng và tài sản cho nhân dân. Cuộc tản cư của nhân dân các tỉnh rất khẩn trương và an toàn. Lưc lượng liên quân Lào – Việt  ở lại chiến đấu rất dũng cảm và ngoan cường. Liên quân này đại đa số là con em Việt Kiều. Đã ngăn chặn đánh quyết liệt ở các hướng, làm cho địch bị tiêu hao nhiều sinh lực. Song vì tương quan lực lượng quá chênh lệch, nên lực lượng liên quân đã chủ động rút lui khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng.

             Vào đầu năm 1946 khi tỉnh Tha Khek bị thất thủ, giặc Pháp gây ra vụ tàn sát dã man làm chết hơn 3000 người. Sau khi cân nhắc tình thế, so sánh lực lượng địch, ta. Chính phủ lâm thời Lào độc lập quyết định chuyển Chính phủ, Việt Kiều và nhân dân lào trong thành phố tản cư sang Thái Lan. Cho bộ đội liên quan Lào – Việt rút khỏi thành phố, chuyển ra ngoại ô để bảo toàn lực lượng và tổ chức kháng chiến.

             Sau khi giặc Pháp chiếm được thành phố Viêng Chăn, lãnh đạo Đoàn 83 đã quyết định chuyển toàn bộ đơn vị tạm thời sang đất Thái Lan để củng cố lực lượng và chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

            Đầu tháng 1 – 1947 đơn vị bộ đội Việt Kiều tiền thân Đoàn 83 trở lại Viêng Chăn để phối hợp với bộ đội Itxala hoạt động. Đến cuối năm 1947 đơn vị bộ đội Việt Kiều lại rút lui về Thái Lan để củng cố lực lượng.

            Sang năm 1948 cục diện chiến trường Đông Dương chuyển bước ngoặt khẩn trương, quyết liệt. Bộ đội Việt Kiều sau thời gian ngắn củng cố, học tập phải trở lại ngay đất Lào để bám trụ chiến trường. Đơn vị được đặt tên là “Trấn Ninh”. Đây là đoàn Hải Ngoại được giao nhiệm quan trọng trở về Miền Bắc Việt Nam, hành quân mở đường xuyên đất Lào về tăng cường cho quân khu 4. Tiếp tục hỗ trợ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào từ phía Đông tiến sang dựa vào quân khu 4 để từ biên giới Việt Nam tiến sang Lào.

              Từ cuối năm 1953 đến đầu năm 1954 bộ đội tình nguyện Việt Nam Đoàn 83 thuộc mặt trận Tây Lào đang đà vươn lên mạnh mẽ sau những chiến thắng vang dội trên chiến trường Đông Dương. Trực tiếp là mặt trận Thượng Lào, hòa cùng vói chiến thắng tại chỗ của mặt trận Viêng Chăn. Địch co cụm, ngụy quân, ngụy quyền hoang mang. Tiếp đến chiến thắng Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu, hiệp định Genevơ được ký kết, ban hành lệnh ngừng bắn. Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở lào rút về nước. Lực lượng vũ trang Pa Thét Lào tập kêt về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Sa Lỳ. Trước khí thế cách mạng của cả nước. Được sự lãnh đạo và công tác chính trị động viên của quần chúng, nhân dân. Nên dù hành quân giữa mùa mưa rừng. Nhưng cán bộ chiến sỹ Đoàn 83 vẫn bằng mọi giá vượt khó khăn bao sông, suối trong mùa mưa lũ để kịp thời có mặt ở bên bờ sông Chu Thanh Hóa vào tháng 9 – 1945 để các đoàn quân tình nguyện khác thành lập tổng đội biên phòng. Rồi cùng hành quân lên cao nguyên Mộc Châu Sơn La trở thành trung đoàn 83 của su đoàn 335.

               Năm 1952, đoàn 83 được Nhà nước tặng thưởng huân chương quân công hạng III. Là đơn vị duy nhất quân tình nguyện Việt Nam tại Lào được nhà nước tặng thưởng danh hiệu này trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

              Năm 1955, tại Thọ Xuân  – Thanh Hóa, tổng đội biên phòng được thành lập. Tư lệnh tổng đội biên phòng do thiếu tướng Tạ Xuân Thu (Tư lệnh Thượng Lào cũ ) làm chỉ huy trưởng.

              Đoàn 83 là một bộ phận của tổng đội biên phòng. Địa bàn hoạt động là Mường Xẻn (Nghệ An), Hồ Xuân (Thanh Hóa) và Mộc Châu.

             Giữa năm 1955 tổng đội biên phòng giải thể. Đoàn 83 được thành lập (tiền thân là giải phóng quân Việt Kiều). Thành lập ở Thái Lan quân số 150 người, cán bộ chiến sĩ là Việt Kiều Thái Lan. Việt Kiều Lào có ông Phan Kỷ, Đinh Văn Khanh.

                        E trưởng: Bế Xuân Cương

                        Chính ủy: Nguyễn Hòa

                        Sư đoàn 335 được thành lập cuối 1955 gồm:

                        E 280 quân tình nguyện Việt Nam Trung Lào

                        E 673 quân tình nguyện Việt Nam Hạ Lào

                        E 83 quân tình nguyện Việt Nam Thượng Lào

                        Cây đa bản Áng:  Là điểm tập kết, là trạm xá đầu tiên của đoàn 83

               Quá trình hoạt động của đoàn 83 tại Mộc Châu ( tháng 9/1955 – 1959) 9/1955 – 12/1955: Xây dựng doanh trại, chấn chỉnh lực lượng đầu năm 1956: Tham gia vào đào mương dẫn nước từ mó nước (núi ông Công) trường thiếu nhi dân tộc nội trú hiện nay về tới bản Áng (Đông Sang, Mộc Châu). Mương dài hơn 2km, sâu 1,0m, rộng 4m. Tham gia làm thủy lợi ở A Má (Lóng Sập) và Chiềng Hặc. Năm 1956: Tham gia hoạt động trấn áp bạo loạn (xưng Vua) ở xã Kiến Thiết (nay là Lóng Luông).

              Năm 1958: Tham gia xậy dựng sân bay Nà Sản – Mai Sơn tham gia mở đường 136 Xồm Lồm – Gia Phù – Vạn Yên dài 50km đơn vị đóng quân tại một bản người Dao khi tham gia làm đường. Bản 83 người Dao là tên của đoàn 83 khi đóng quân làm đường từ đây.

              Năm 1959 tham gia bảo vệ phái đoàn Chính phủ  do Bác Hồ dẫn đầu lên thăm Tây Bắc ngày 7 – 5 – 1959.

              Trước yêu cầu và biến động chung của tình hình cách mạng. Lực lượng vũ trang trung đoàn 83 trở thành đơn vị cầu đường thường trực thuộc quân khu Tây Bắc. Đến năm 1968 lại trở thành trung đoàn công binh cơ động dự bị chiến lược lên đường vào Nam làm nhiệm vụ mở tuyến đường Trường Sơn. Vừa làm đường vừa chiến đấu trên chiến trường Miền Nam và Trung, Hạ Lào cho đến khi giải phóng hoàn toàn Miền Nam, Thống Nhất đất nước. Năm 1976 trung đoàn 83 thuộc binh chủng Hải Quân là trung đoàn công binh xây dựng các công trình phòng thủ ở quần đảo Trường Sa và một số đảo khác cùng với công trình phòng thủ bờ biển.

              Trung đoàn 83 đã được nhân dân hai nước Lào – Việt và Kiều bào ở Thái Lan ghi nhận và tôn vinh thành tích trong suốt cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của Mỹ cho đến ngày ngừng tiếng súng trên đất nước Lào anh em kể từ năm 1945 cho đến hòa bình ngày nay. Nhiều con em Việt Kiều Lào,, Thái là chiến sỹ tình nguyện quân Việt Nam luôn làm nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Lào. Đã đóng góp nhiều công sức to lớn vào thắng lợi của nhân dân Lào. Được Đảng và chính phủ Lào ghi nhận và tặng thưởng huân chương cao quí của Lào. Nhà nước Việt Nam ghi tặng thành tích giúp bạn đó là: Sự nôi bật từ những đơn vị tiền thân của Việt Kiều giải phóng quân.

             Tự vệ cứu quốc tham gia cùng nhân dân Lào nổi dậy và giữ chính quyên Viêng Chăn mùa thu năm1945. Đến những đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam trên mặt trân Tây Lào rồi chuyển thành đoàn 83 Viêng Chăn thuộc mặt trân Thượng Lào. Vượt qua bao gian khổ, hy sinh, kiên trì bám trụ chiến trường, chiến đấu trong lòng địch, kề vai sát cánh cùng bộ đội Itxala và nhân dân Lào “Hạt gao cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”. Đã lập nên những chiến công và thành tích xuất sắc vì nhiệm vụ quốc tế cao cả, góp phần xứng đáng trong liên minh tình đoàn kết đặc biệt Việt – Lào. Vinh dự đơn vị hoạt động ở địa bàn thủ đo Viêng Chăn xứng đáng là đơn vị tình nguyện quân Việt Nam tặng thưởng huân chương quân công hang ba là đơn vị đầu tiên trên mặt trận Thượng Lào được nhận phần thưởng cao quí của Nhà nước ta phong tặng danh hiệu anh hùng lần thứ nhất đến năm 1975 được tuyên dương danh hiệu anh hùng lần thứ hai có thành tích xuất  sắc đặc biệt góp phần xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ đổi mới.

             Thành tích mà đoàn 83 có được không những là công lao đóng góp của cả nhân dân hai nước Việt – Lào mà còn có sự đóng góp lớn lao của Việt Kiều ta ở Thái Lan bởi đã góp người, lương thực, thuốc men, quân trang, quân dụng, vật liệu hóa chất dùng cho công binh và quân y.  Xương máu của bao nhiêu cán bộ chiến sỹ đoàn 83 trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có hàng trăm chiến sỹ quân tình nguyện hy sinh trên chiến trường Viêng Chăn. Sự lớn lao ấy đã góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến vì độc lập, tự do của hai dân tộc Việt – Lào.

             Tự hào dân tộc Việt Nam có trung đoàn tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp bạn Lào chiến đấu chống quân xâm lược thực dân Pháp góp phần giải phóng dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào là một minh chứng cho tình hữu nghị thắm thiết giữa hai dân tộc Việt – Lào, cũng là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và vinh dự lớn lao đó là quân đoàn tình nguyện 83. Sư đoàn 335 nói chung đã từng giúp bạn trên cả ba chiến trường: Hạ, Trung và Thượng Lào. Với tình thần quốc tế trong sáng, thủy chung làm theo lời Bác Hồ “Tôn trọng, thương yêu đất nước và nhân dân bạn như đất nước và nhân dân mình, giúp bạn là tự giúp mình, cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù chung. Đồng thời không ngừng phấn đấu rèn luyện giữ đúng phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ”.

III. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA DI TÍCH

              Là một di tích có ý nghĩa quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp ủa đoàn 83, quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Vượt qua bao gian khổ hy sinh, kiên trì bám trụ chiến trường, chiến đấu trong lòng địch, kề vai sát cánh cùng bộ đội Itxala (Lào) lập nên những chiến công và thành tích xuất sắc vì nhiệm vụ quốc tế cao cả góp phần xứng đáng cho sự hợp tác đặc biêt. Keo sơn tình hữu nghị Việt  – Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Sưu tầm