Cưới hỏi truyền thống của người Sán Dìu  

 

(LVH) – Người Sán Dìu thường tổ chức lễ cưới vào tháng 10 âm lịch hàng năm với tục cưới hỏi mang đặc trưng sắc thái văn hoá cộng đồng sâu sắc.

Khi chọn được cô gái ưng ý, chàng trai về xin phép gia đình đến nhờ ông mối mang lễ sang nhà gái xin lá số (lôổng nén sang). Việc xin lá số của người Sán Dìu độc đáo ở chỗ nếu nhà gái có hai người con gái đến tuổi lấy chồng thì ông mối sẽ xin lá số của cả hai người về so, ai hợp thì hỏi người đó: nếu cả hai cùng hợp thì nhà trai sẽ tìm hiểu tính nết, cách ăn ở của cô gái để chọn một người.

images649676_a4_t6_7

Tái hiện tục hát đố trong đám cưới (ảnh lớn) và lễ khai hoa tửu (ảnh nhỏ) trong hôn nhân xưa của người Sán Dìu ở xã Bình Dân, Vân Đồn, tháng 12-2008.

(Nguồn: Internet)

Khi so tuổi cô gái và chàng trai thấy hợp nhau, nhà trai đưa lễ nhỏ (nải chuối, trầu cau, chè, thuốc) nhờ ông mối sang báo và chính thức hỏi ý kiến nhà gái và cô gái về cuộc hôn nhân. Được sự đồng ý của nhà gái, nhà trai chuẩn bị rượu, từ 4 đến 6 con gà và gạo nếp để tiến hành lễ ăn hỏi (bạo nhít). Đại diện nhà trai có ông mối và hai thanh niên (là anh em họ hàng hoặc bạn của chú rể) mang lễ sang nhà gái. Trong lễ ăn hỏi, nhà trai thông báo ngày cưới và giờ đón dâu, nhà gái thông báo đồ thách cưới. Đồng bào Sán Dìu cho rằng đồ thách cưới thể hiện giá trị của cô gái, do đó đồ thách cưới thường khá cao. Trong lễ cưới truyền thống của người Sán Dìu xưa, đồ thách cưới thường gồm: 60kg lợn móc, 40-60 lít rượu, gạo, chăn màn, hòm, 4 bộ quần áo cho cô dâu, một đôi hoa tai bằng vàng nặng 2 đồng cân và một số tiền mặt tương ứng với một con trâu. Sau lễ ăn hỏi, hai bên gia đình đã chính thức coi nhau là thông gia.

Lễ cưới (sênh ca chíu) của người Sán Dìu thường diễn ra trong vòng 3 ngày. Khi hai nhà bắt đầu dựng rạp (thường vào buổi chiều) cũng là lúc đoàn nhà trai mang đồ thách cưới sang nhà gái. Theo phong tục, đoàn mang lễ sẽ ngủ lại nhà gái một đêm và đây cũng là đoàn đón dâu vào chiều hôm sau. Tất cả đồ lễ đều được dán giấy đỏ, đồng bào cho rằng màu đỏ là màu của hạnh phúc, niềm vui và sự đủ đầy.

Khi nhà trai mang lễ đến, nhà gái đặt một cành tre uốn cong có dán giấy đỏ trước cửa nhà. Nhà trai muốn vào nhà phải hát đối với nhà gái, đối được nhà gái mới cho vào. Cuộc hát vừa để thử tài ứng đối của nhà trai, vừa tạo bầu không khí vui tươi cho đám cưới.

Ngày hôm sau, nhà trai xin đón dâu. Cô dâu (thzin nhoóng) đầu trùm khăn che kín mặt, mặc áo váy nâu, vấn khăn. Ra khỏi nhà gái, gặp trẻ con chăng dây nhà trai phải hát hoặc cho tiền mới được qua. Khi đoàn đưa dâu về đến nhà trai, chú rể (thzin nhoóng cổông) đưa cô dâu đến lễ tổ tiên trước bàn thờ. Sau đó, cô dâu được đưa vào buồng cưới. Dưới chiếu trải giường cưới, bố mẹ chồng cũng để tiền cho đôi vợ chồng mới. Cô dâu được giữ số tiền này, để trong ngày làm dâu đầu tiên, trước khi làm bất cứ việc gì, như rửa bát, nấu cơm, gánh nước… thì phải bỏ tiền xuống chậu rửa, hồ, ao, suối… Theo quan niệm của đồng bào thì đây là một nghi lễ trình báo với thần làng, thổ công, thổ địa của nhà trai và xin được nhập vào cộng đồng mới.

Ngày thứ ba của đám cưới, nhà trai tổ chức ăn mừng lớn. Trong đám cưới có bà con họ hàng bạn bè gần xa và thôn bản đến dự. Sau đó, nhà trai chuẩn bị bánh chưng, chân giò lợn và cử chị gái chú rể hoặc nhờ bác ruột chú rể đưa cô dâu về nhà bố mẹ đẻ. Lễ này đồng bào gọi là chọn tháp cóc chéc (lễ lại mặt). Sau lễ lại mặt, cô dâu chú rể mới được động phòng.

Đức Khôi (Nguồn: dulichvietnam.com.vn)

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s