Dân tộc Khơ Mú

 

 @Dt Khmu.jpg

Tên tự gọi: Khơ-mú

Tên gọi khác: Xà, Tày Hạy, Thềnh, Mứn Xen…

Dân số: 1.260.640 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Khơ-mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, ngữ hệ Nam Á. Người Khơ-mú không có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Người Khơ-mú sinh sống chủ yếu ở miền núi tỉnh: Sơn La, Lai Châu, một ít ở Yên Bái, Thanh Hóa.

Nguồn gốc lịch sử: Người Khơ-mú đến lập nghiệp ở nước ta khoảng 200 năm nay.

@Dt Khmu 1

 

Đặc điểm kinh tế: Người Khơ-mú canh tác nương rẫy với công cụ sản xuất là dao, nu, gậy chọc lỗ. Săn bắn, hái lượm chiếm vai trò quan trọng trong đời sống. Nghề phụ gia đình được phát triển nhất là đan lát. Một số nơi còn duy trì nghề dệt vải thủ công.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Khơ-mú ăn nếp đồ, sắn đồ trộn nếp và món ăn nường, sấy khô, uống rượu cất.

Ở: Người Khơ-mú sống quây quần thành lừng bản, trên sườn núi, ở nhà sàn nhỏ, lợp tranh hay lá song mây. Hình dáng nhà ở nhiều nơi giống như nhà của đồng bào Thái, ở đầu hồi có khau cút.

 @Dt Khmu 2

Lễ Cầu Mùa của dân tộc Khơ Mú

Phương tiện vận chuyển: Gùi có dây đeo qua trán là phổ biến nhất.

Hôn nhân: Người Khơ-mú còn duy trì tục ở rể. Vợ chồng bình đẳng, chung thủy.

Tang ma: Người Khơ-mú có nhiều nghi thức trong tang ma, cúng lễ và để tang.

Tín ngưỡng: Người Khơ-mú thờ cúng tổ liên, dòng họ. Nhà ở thì nhỏ nhưng vẫn thờ cúng ở gian phụ. Nhiều loại đồ thờ (sừng trâu, lá rừng) treo trên tường. Người Khơ-mú còn cúng các vị thần…

Trang phục: Y phục truyền thống của phụ nưlà áo đen, dài, đằng trước thường gắn hàng khuy bạc hay nhôm hình chữ nhật hoặc đáp vải màu. Nay phần lớn họ mặc giống ngườiThái.

Đời sống văn hóa: Người Khơ-mú có nhiều truyện kể về sự tích xuất hiện loài người. truyện kể lịch sử. Tơm là làn điệu dân ca được nhiều người ưa chuộng nhất. Các nhạc cụ tự tạo cũng khá phong phú: kèn môi, ống gõ, đàn, trống. sáo. Người Khơ-mú có nhiều điệu múa, có cả múa xòe. Cuộc sống tinh thần khá phong phú.

Lễ hội của người Khơ Mú

  • Lễ hội Cầu mùa

  • Lễ hội Mah Grợ

  • Hội mừng mưa rơi

Lễ hội Cầu mùa (Lễ hội Pa Sưm)

Đây là lễ hội cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu, cuộc sống no đủ.

Thời gian tổ chức

Lễ hội Pa Sưm (cầu mùa) thường diễn ra trước lúc tra hạt trên nương rẫy.

Lễ hội Mah Grợ

Có ý nghĩa tổng kết mùa vụ năm qua và bắt đầu một vụ mùa mới.

Thời gian tổ chức

Tháng giêng, tháng hai đến tháng ba, tháng tư âm lịch là phát rẫy, đốt nương gieo trồng hạt xuống đất.

Hội mừng mưa rơi

Hội mừng mưa rơi còn gọi là “Om đin om đang”, tức lễ hội mừng nước hay hội mừng mùa măng mọc.

Thời gian tổ chức

Hội mừng mưa rơi được tổ chức vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 âm lịch, trước hoặc sau những cơn mưa đầu mùa.

Sưu tầm

 

Advertisements

One thought on “Dân tộc Khơ Mú

  1. Pingback: Giới thiệu các dân tộc Việt Nam | Học hỏi để trau dồi, chia sẻ để kết nối.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s