Chỉ với thịt bò mà qua đôi bàn tay của các bà, các mẹ, các chị đã tạo nên nhiều món ăn muôn hình, muôn vẻ với hương vị độc đáo, để những ai đã qua xứ Huế mộng mơ, đã một lần thưởng thức đều thấy nhớ, mong tìm lại. 

TTH_Bunbohue

Thịt bò kho quế có mầu nâu sẫm thơm nồng mùi quế, thịt bò được lạng thành miếng dày, to bản. Mỡ gáy của lợn thái thành thỏi ướp mắm, muối, đường. Sau khi ngấm gia vị đặt mỡ nằm giữa miếng thịt bò cuốn tròn lá, lấy lạt buộc chặt xếp vào nồi, cho thêm tỏi, bột quế… Đặt nồi lên bếp đun lửa cháy liu riu. Thịt mềm, rắc lạc rang giã dập vào nồi trộn đều. Khi ăn tháo lạt ra cắt thành từng khoanh bày ra đĩa. Nhìn đĩa thịt bò với những khoanh dứa thái mỏng nằm e ấp chung quanh, một chút nước sốt rưới vào, lạc rang được phủ đều lên trên trông thật hấp dẫn, mời gọi.

Thịt bò thưng có mầu đỏ nâu thơm mùi gia vị, ngọt đậm làm bằng thăn mỡ bò cuốn mỡ, lót sả nấu chín dùng ăn với cơm. Nguyên liệu thịt bò thăn, thái từng miếng mỏng. Mỡ lợn thái từng miếng dài. Thịt bò, tẩm ướp mắm, hành, tỏi băm nhỏ, ngũ vị hương. Thịt ngấm gia vị đem trải ra thớt, bỏ mỡ vào cuộn chặt lại, lấy lạt buộc chung quanh, xếp vào nồi đã lót sẵn sả, đổ nước ngập thịt đun nhỏ lửa. Thịt chín tới mùi sả hòa ngũ vị hương thơm phức.

Thịt bò nướng chanh có vị chua dìu dịu bởi lúc tẩm ướp xong phải vắt chanh vào trộn cùng mỡ nước. Khi ăn thoa thêm chút bơ, chấm muối tiêu chanh ăn cùng bánh mỳ.

Ngoài thịt bò với những món ăn mang đậm tình nghĩa, người Huế còn tận dụng gân bò, gan bò, chế biến thành rất nhiều món ăn lạ miệng như gân bò nạu, gân bò trộn xà lách.

Gân bò nạu là một món súp làm bằng gân bò, thêm thịt gà, thịt ba dọi, tôm, trứng, nấm, xu hào. Gân bò được hầm với đu đủ mềm nhũn, dẻo, béo vớt ra dầm vào nước bột mỳ. Sau đó rửa sạch thái khúc ngắn, tỉa hai đầu ngâm nước gừng. Thịt gà và thịt ba chỉ thái mỏng ướp muối, hạt tiêu, hành, tỏi… Tôm bóc vỏ giã nhuyễn ướp gia vị bọc nấm hương. Trứng vịt tráng riêng lòng đỏ, lòng trắng thật mỏng thái chỉ.

Sưu tầm

Bản Cát Cát – Điểm du lịch số 1 ở Sapa

Đến Sa Pa, du khách không chỉ choáng ngợp trước khung cảnh núi non hùng vĩ, ruộng bậc thang và những địa danh như: Bản Cát Cát, Cầu Mây, thác Bạc, đỉnh Phanxipang…

Bản Cát Cát hay thôn Cát Cát là một ngôi làng nhỏ nằm cách thị trấn Sa Pa (tỉnh Lào Cai, Việt Nam) 2 km. Bản Cát Cát SaPa được hình thành từ giữa thế kỷ 19 do một bộ phận dân tộc ít người quần tụ theo phương pháp mật tập (dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét và sinh sống, trồng trọt canh tác ngay trên những sườn đồi quần cư). Với những thắng cảnh thiên nhiên cùng nét đẹp trong văn hóa người Mông nơi đây đã tạo nên cho Cát Cát một sức hấp dẫn đến lạ kỳ thu hút du khách đi du lịch Sapa ghé thăm ngôi làng này.

 Lào Cai_ban-cat-catBản Cát Cát với nét đẹp của văn hóa người Mông đặc sắc

Đến Cát Cát du khách sẽ có cơ hội trải nghiệm những hoạt động thường ngày của người dân tộc Mông nơi đây như: trồng lúa, săn bắn…Đi tour du lịch SaPa thăm bản Cát Cát du khách sẽ tham quan những thửa ruộng bậc thang đẹp mê hồn, khám phá đẹp trong văn hóa của người dân nơi đây. Cát Cát  từ lâu đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn nên khám phá khi đến Sa Pa.

Lào Cai_nguoi-dan-ban-cat-cat

Vẻ đẹp con người bản Cát Cát hấp dẫn du khách

Một nét đặc biệt khiến Cát Cát luôn là điểm đáng khám phá trong chuyến hành trình tour du lịch Sapa đối với du khách đó là nét đặc biệt trong kiến trúc nhà cửa người Mông Bản Cát Cát nơi đây. Nhà của người mông thường được dựng bằng ván gỗ Powmu( một loại gỗ hiểm vá quý). Bên trong ngôi nhà được bố trí với 3 cột ngang, các cột đều được kê trên phiến đá tròn hoặc vuông. Vách của ngôi nhà cũng khá đặc biệt bởi được lợp bằng gỗ xẻ, có 3 cửa ra vào: cửa chính ở gian giữa, 2 cửa phụ ở hai đầu nhà. Cửa chính luôn được đóng kín, chỉ mở khi có việc lớn như đám cưới, tang ma, cúng ma vào dịp lễ Tết. Trong nhà có không gian thờ, sàn gác lương thực dự trữ, nơi ngủ, bếp và nơi tiếp khách. Đây là một trong những nét khá riêng trong việc dựng nhà của người dân tộc Mông Bản Cát Cát so với những dân tộc.

Lào Cai_ve-dep-ban-cat-cat

Khung cảnh do bàn tay con người tạo nên ở Bản Cát Cát

Đến bản Cát Cát, du khách sẽ được khám phá những phong tục tập quan độc đáo, nét đẹp trong tín ngưỡng tôn giáo của người dân nơi đây, cùng hòa mình vào những điệu múa dịu dàng của cô gái Mông xinh đẹp, hay điệu khèn, tiếng đàn môi xao động long người của những chàng trai Mông. Giữa mây ngàn và gió núi, các âm thanh đồng loạt vang lên mênh mang và phóng khoáng đến vô cùng tận.

 Nếu ai lần đâu tiên đến Bản Cát Cát, hẳn nhiều người không biết có một phong tục khá đặc biệt đó là tục kéo vợ. Khi người con trai quen biết và đem lòng yêu một cô gái, anh ta sẽ tổ chức làm cỗ mời bạn bè và nhờ các bạn lập kế hoạch “kéo” cô gái về nhà một cách bất ngờ, giữ cô trong ba ngày. Sau đó, nếu cô gái đồng ý làm vợ chàng trai thì sẽ tiến hành lễ cưới chính thức. Nếu cô từ chối thì họ cùng nhau uống bát rượu kết bạn và mọi việc trở lại bình thường như chưa có điều gì xảy ra. Lễ cưới người Mông ở Cát Cát thường được tổ chức từ 2 đến 7 ngày.

Ngoài ra, Ở làng Cát Cát nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc, đồng đã có từ lâu đời và tạo ra những sản phẩm tinh xảo. Quy trình để chế tác một sản phẩm trang sức phải trải qua nhiều công đoạn như: cho bạc vào nồi trên bễ lò đun đến khi nóng chảy thì rót vào máng. Chờ khi bạc nguội lấy ra dùng búa đập, rèn sao cho thanh bạc có kích cỡ to, nhỏ, dài, ngắn, vuông, tam giác, tròn, dẹt hay kéo thành sợi. Tiếp đó, họ giũa cho thật nhẵn và nếu cần trang trí thì dùng đinh để chạm khắc, tạo hoa văn nổi hoặc chìm rồi mới uốn hình sản phẩm. Cuối cùng là bước đánh nhẵn, làm trắng và bóng. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

Cát Cát điểm đến hấp dẫn hứa hẹn những điều mới mẻ và lý thú dành cho du khách.

 Sưu tầm

 

Dân tộc Kinh

Cô gái Kinh trong tà áo dài và chiếc nón đặc trưng xứ Huế

Tên tự gọi: Kinh

Tên gọi khác: Việt.

Số dân: 73.594.427 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt- Mường (ngữ hệ Nam Á). Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng, sử dụng chữ Hán, sáng tạo ra chữ Nôm.

Nguồn gốc lịch sử: Tổ tiên người Việt từ xa xưa đã định cư ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Địa bàn cư trú: Người Kinh cư trú khắp cả nước, nhưng tập trung đông tại các vùng đồng bằng và thành thị.

Đặc điểm kinh tế: Nông nghiệp lúa nước hình thành và phát triển rất sớm, sử dụng sức kéo trâu bò. Chăn nuôi lợn, gia súc, gia cầm, thả cá… cũng rất phát triển. Người Việt sáng tạo ra nhiều nghề thủ công nổi tiếng (đan lát, mộc, chạm khắc, thêu, dệt, gốm..)

Phong tục tập quán

Ăn: Ăn cơm tẻ thường ngày, dùng đồ nếp trong ngày lễ. Người Kinh có tập quán ăn trầu cau, hút thuốc lào, thuốc lá, uống nước chè, nước vối.

Ở: Ở nhà trệt, giữa nhà đặt bàn thờ gia tiên. Các vùng có kiểu nhà khác nhau. Ở miền Bắc, nhà ba gian hai trái; miền Trung là nhà rường và nhà mái lá.

Phương tiện vận chuyển: Đa dạng, phong phú trên đường bộ (gánh, vác, thồ bằng các phương tiện.. ); đường thủy (thuyền, bè).

Hôn nhân, gia đình: Theo gia đình mẫu hệ. Mỗi họ có nhà thờ họ, có người trưởng họ quán xuyến việc chung. Hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều nghi thức, nhà trai hỏi vợ và cưới vợ cho con.

Lễ tết: Có nhiều lễ tết trong 1 năm (Tết Nguyên Đán, các hội mùa xuân, Rằm tháng giêng, tết Thanh minh, lễ Hạ điền, lễ Thượng điền, tết Ðoan Ngọ, rằm tháng bẩy, tết Trung thu). Mỗi tết đều có ý nghĩa riêng và lễ thức tiến hành cũng khác nhau. Ngoài ra còn có các lễ hội của làng, của nghề…

Tang ma: Việc tổ chức tang ma qua các bước cơ bản sau: liệm, nhập quan, đưa đám, hạ huyệt, cúng cơm, cúng tuần “tứ cửu”, cúng “bách mật”, để tang, giỗ đầu, cải táng… Mỗi độ Thanh Minh, mỗi kỳ giỗ tết, các gia đình đi đắp lại mộ và tổ chức cúng lễ. Cải táng là một phong tục rất thiêng liêng của người Kinh.

Tín ngưỡng: Tờ tồ tiên là chính, ngoài ra còn thờ thổ công, thần Tài, Phật Bà Quan Âm. Một số vùng theo đạo Phật, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành. Tín ngưỡng dân gian có thờ Mẫu, tứ bất tử…

Trang phục: Theo truyền thống, nam thường mặc quần chân què, áo cánh nâu (Bắc Bộ), màu đen (Nam Bộ), đi chân đất; ngày lễ tết mặc quần trắng, áo chùng lương đen, đội khăn xếp, đi guốc mộc. Nữ đội nón, mặc váy đen, yếm, áo cánh nâu, chít khăn mỏ quạ đen (Bắc Bộ). Phụ nữ ngày lễ hội hè mặc áo dài. Mùa đông, cả nam và nữ thường mặc thêm áo kép bông.

Đời sống văn hóa: Vốn văn học cổ đồ sồ, gồm văn học miệng (truyện cổ, ca dao, tục ngữ), văn học viết bằng chữ (những áng thơ, văn, bộ sách, bài hịch). Nghệ thuật phát triển sớm và đạt trình độ cao về nhiều mặt (ca hát, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, múa, diễn xướng). Hội làng hàng năm là một dịp sinh hoạt văn nghệ rôm rả, hấp dẫn nhất ở nông dân.

Lào Cai- Thiên đường du lịch vùng cao

http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/L…

Vượt qua hơn 300 km từ Hà Nội về phía Bắc, du khách sẽ đến với thành phố Lào Cai – trung tâm của các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam. Từ trung tâm kinh tế – văn hoá – chính trị này, sang phía Đông Bắc du khách sẽ đặt chân lên vùng cao nguyên trắng Bắc Hà rực rỡ sắc màu văn hoá dân tộc, ngược lên Tây Bắc là đến vùng nghỉ dưỡng khí hậu núi cao Sa Pa nổi tiếng với đỉnh Fansipan hùng vỹ, xuôi về phía Nam, du khách sẽ hoà mình trong dòng chảy Chương trình du lịch về cội nguồi của ba tỉnh Phú Thọ – Yên Bái – Lào Cai. Đó là hành trình đưa du khách đến với vùng đất mới để tận hưởng và khám phá.

Lào Cai

Lào Cai

Diện tích: 6.383,9 km² Dân số: 646.8 nghìn người (2012). Tỉnh lỵ: Thành phố Lào Cai. Các huyện: Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, Bảo Yên, Văn Bàn, Si Ma Cai. Dân tộc: Việt (Kinh), H’Mmông, Tày, Dao, Thái… 

Lào Cai_sapa

Sa Pa

Ðiều kiện tự nhiên

Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía nam giáp Yên Bái và Sơn La.

Địa hình Lào Cai khá phong phú gồm nhiều loại hình, có địa hình thung lũng, có địa hình vùng núi thấp, địa hình vùng núi cao và các đỉnh núi rất cao như đỉnh Phanxiphăng – nóc nhà của tổ quốc cao 3.143m… Lào Cai có 107 sông suối chạy qua tỉnh, với 3 hệ thống sông chính là sông Hồng, (có chiều dài chạy qua địa phận Lào Cai là 120km), sông Chảy (có chiều dài chạy qua tỉnh là 124km), sông Nậm Mu (có chiều dài chạy qua tỉnh là 122km).

Khí hậu Lào Cai là khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng miền núi, mùa đông lạnh khô, ít mưa, mùa hè nóng mưa nhiều. Lào Cai cũng có nhiều tiểu vùng khác nhau. Đặc điểm nổi bật của sinh vật Lào Cai là tính đa dạng sinh học. Toàn tỉnh có hơn 2.000 loài thực vật, 442 loại chim, thú, bò sát, ếch nhái. Trong đó có 60 loại động vật chỉ tìm thấy ở Lào Cai, 9 loại thực vật chỉ tìm thấy ở Sa Pa. Lào Cai có kho tàng quỹ gen đặc biệt quý hiếm (chiếm tới gần 50% số loại thực vật đặc biệt quý hiếm ở nước ta).

Lịch sử văn hóa

Lào Cai bắt nguồn từ địa danh khu đô thị cổ “Lão Nhai” có nghĩa là “Phố cổ”. Ngày 12/7/1907, tỉnh Lào Cai được thành lập, tên của đô thị cổ trở thành tên tỉnh Lào Cai. Thời dựng nước, Lào Cai là trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng ở vùng thượng lưu sông Hồng. Nhiều nhà sử học cho rằng, Lào Cai là quê hương của Thục Phán An Dương Vương. Thời phong kiến, Lào Cai là địa bàn của châu Thuỷ Vĩ, châu Văn Bàn và một phần đất Chiêu Tấn, phủ Qui Hoá, tỉnh Hưng Hoá. Ngày 12/7/1907 tỉnh Lào Cai được thành lập gồm có 2 châu Thuỷ Vĩ, Bảo Thắng, các đại lý Mường Khương, Bát Xát, Phong Thổ, Bắc Hà và đặc khu Sa Pa. Năm 1955 huyện Phong Thổ chuyển sang khu tự trị Thái Mèo về sau trực thuộc tỉnh Lai Châu. Ngày 1/1/1976, ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ được sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Ngày 1/10/1991, tỉnh Lào Cai được tái thành lập.

Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Các dân tộc Lào Cai đã sáng tạo, lưu giữ hàng trăm di tích lịch sử văn hoá. Nổi bật là các di tích về khu trạm khắc đá cổ, với các hình khắc về bản đồ, chữ viết, hình người có niên đại cách ngày nay hàng nghìn năm ở thung lũng Mường Hoa (Sa Pa). Di tích thờ ông Hoàng Bảy một vị tướng có công bảo vệ biên giới thời Hậu Lê được tôn thờ là “Thần vệ Quốc”, di tích Đền Thượng – thờ Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng với niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), di tích chiến thắng Phố Ràng… đặc biệt Lào Cai còn có hệ thống các hang động kỳ ảo trở thành các danh thắng tuyệt đẹp, thu hút đông đảo khách du lịch tham quan như động Thuỷ Tiên (Bát Xát), động Tả Phời (Cam Đường), hang Tiên- Trung Đô (Bắc Hà), động Xuân Quang (Bảo Thắng)…

Thiên nhiên Lào Cai cũng tạo nên các thắng cảnh đẹp như khu Hàm Rồng – một “tiểu Thạch Lâm” ở Sa Pa có bãi đá cổ hàng vạn năm với hàng trăm phiến đá muôn hình muôn vẻ. Hoặc đỉnh Phan Xi Păng hùng vĩ – nóc nhà của Tổ quốc là bảo tàng sống về động, thực vật đặc hữu…

Lào Cai với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, với trên 31 loại khoáng sản phân bố ở 130 điểm mỏ. Hiện nay, Lào Cai được đánh giá là tỉnh giàu có về khoáng sản, có trữ lượng apatit, đồng, sắt vào loại lớn của khu vực và thế giới.

Dân tộc, tôn giáo

Lào Cai có 27 dân tộc anh em sinh sống.

Dân tộc kinh có 194.666 người, dân tộc H’Mông có 122.825 người, dân tộc Tày có 82.516 người, dân tộc Dao có 72.543 người, dân tộc Thái có 51.061 người, dân tộc Giáy có 24.360 người, dân tộc Nùng có 23.156 người, dân tộc Phù Lá có 6.763 người, dân tộc Hà Nhì có 3.099 người, dân tộc Lào có 2.134 ngưòi, dân tộc Kháng có 1.691 người, dân tộc LaHa có 1.572 người, dân tộc Mường 1263 người, dân tộc Bố Y có 1.148 người, dân tộc Hoa có 770 người , dân tộc La Chí có 446 người , và 11 dân tộc có số dân ít dưới 70 người như các dân tộc Sán Chay, Sán Dìu, Khmer, Lô Lô, Kà Doong, Pa Cô , Ê Đê, Giẻ Triêng , Gia Rai, Chăm, Kà Tu.

Lào Cai có số dân tộc chiếm 50% tổng số dân tộc toàn quốc nên đặc điểm nổi bật trong văn hóa các dân tộc Lào Cai là văn hoá đa dân tộc, giàu bản sắc. Ở vùng thấp, người Tày, Thái, Giáy, Nùng, khai khẩn các thung lũng ven sông, ven suối, sáng tạo truyền thống văn hoá lúa nước. Ở rẻo giữa, người Kháng, La Ha, Phù Lá… tạo nên văn hoá nương rẫy với nhiều tri thức bản địa phù hợp với kinh tế đồi rừng. Ở vùng cao, người H’Mông, Hà Nhì, Dao khai khẩn các sườn núi thành ruộng bậc thang bắc lên trời hùng vĩ. Tính đa dạng, phong phú của văn hoá thể hiện cả ở văn hoá vật thể và phi vật thể.

Riêng về trang phục có 34 kiểu loại với sắc màu, chất liệu khác nhau. Mới khảo sát sơ bộ Lào Cai có gần 100 điệu múa, có đủ 10 họ với 11 chi khác nhau của các nhạc khí. Đặc biệt, kho tàng lễ hội ở lào Cai rất đặc sắc. Loại hình lễ hội phong phú. Có hội cầu mùa, hội gắn với tín ngưỡng thờ thần mặt trời, thần nước, phồn thực, bảo vệ rừng. Có hội có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử chống ngoại xâm, đề cao bản sắc văn hoá người Việt cổ. Quy mô các lễ hội cũng đa dạng, có hội có quy mô của cộng đồng làng, bản; có hội có quy mô vùng (hội Gầu Tào ở Pha Long Mường Khương, hội Roóng PoỌc người Giáy ở Tả Van, Sa Pa…) nhưng có hội có quy mô toàn tỉnh như hội xuân Đền thờ ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà… thời gian lễ hội cũng trải dài cả 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đặc biệt, khác với các tỉnh đồng bằng, mùa hè ở các làng bản vùng cao của Lào Cai cũng là mùa của lễ hội. Đặc điểm này rất thuận lợi cho sự phát triển du lịch văn hoá.

Giao thông

Lào Cai là một tỉnh cửa ngõ biên cương phía Tây Bắc của Tổ quốc có 203km đường biên giới với Trung Quốc, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế – chính trị – an ninh – quốc phòng. Lào Cai nằm ở vị thế “đầu cầu” nối liền tỉnh Vân Nam và cả vùng Tây Nam rộng lớn của Trung Quốc với đồng bằng Bắc bộ. Lào Cai có điều kiện thuận lợi về giao thông, có cả đường thuỷ, đường bộ và đường sắt. Trên địa phận tỉnh Lào Cai có 3 tuyến quốc lộ, 6 tuyến tỉnh lộ, đường ôtô đã về đến xã, phường, thị trấn. Đường sông Hồng là tuyến đường huyết mạch thời cổ đại và phong kiến.

Lào Cai hiện có cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia và nhiều cửa khẩu phụ thông thương với Trung Quốc.

 

Bạc Liêu

Bạc Liêu

Diện tích: 2.468.7 km² Dân số: 873,4 nghìn người (2012). Tỉnh lỵ: Thành phố Bạc Liêu. Các huyện: Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Phước Long, Đông Hải, Hòa Bình. Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm… 

Bạc Liêu_Chùa Xiêm Cán

Chùa Xiêm Cán

Điều kiện tự nhiên
Bạc Liêu là một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Phía bắc giáp Sóc Trăng và Cần Thơ, Hậu Giang, phía đông nam giáp biển Đông, phía tây giáp Cà Mau và Kiên Giang. Là vùng đất trẻ được khai mở vào cuối thế kỷ 17 và được phù sa bồi đắp. Bạc Liêu có nhiều cánh đồng lúa bao la. Do hành trình của dòng hải lưu Bắc Nam, phù sa dồn lại tạo thành những giồng đất cát, nơi đây cây ăn trái mọc sum sê.

Khí hậu Bạc Liêu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Thành phố Bạc Liêu được xây dựng bên rạch Bạc Liêu, cách biển 10km, là trung  tâm lúa gạo và đầu mối giao lưu trong và ngoài tỉnh. Đất đai Bạc Liêu màu mỡ, dân cư đông đúc, chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, hoa mầu, cây ăn trái, đánh bắt hải sản và nghề làm muối.

Thời nhà Nguyễn, thế kỷ 18, Bạc Liêu thuộc phủ Bãi Xâu, tỉnh An Giang. Bạc Liêu được thành lập muộn hơn các tỉnh Nam kỳ khác. Tiểu khu Bạc Liêu được hình thành từ cuối năm 1882 do thống đốc Le Myre de Villers ký nghị định lấy một phần đất của 2 tiểu khu Sóc Trăng và Rạch Giá. Ngày 20/12/1989, Toàn quyền Poul Doumer đổi tiểu khu thành tỉnh Bạc Liêu.

Bạc Liêu đã có một vị trí khá quan trọng trong chiến lược khai thác và xây dựng của người Pháp. Bạc Liêu vốn là xứ của một số đại điền chủ Nam kỳ lục tỉnh, mà đến nay vẫn còn khá nhiều dinh thự, biệt thự theo lối kiến trúc phương Tây đã tạo cho Bạc Liêu một dấu ấn riêng rất thú vị.

Du khách đến Bạc Liêu sẽ hiểu thêm về giai thoại công tử Bạc Liêu lừng danh một thuở giàu có và chịu chơi. Đến Bạc Liêu du khách ghé thăm sân chim Bạc Liêu, những vườn nhãn dài hàng mấy chục kilomet mà hương vị của nó ít nơi nào sánh được, tháp cổ Việt Hưng, chùa Xiêm Cán, hoặc đi thăm những rừng đước, rừng tràm, căn cứ tự nhiên trong kháng chiến chống xâm lược.

Phần lớn dân cư Bạc Liêu là người Việt (Kinh), người Khmer chiếm 4,7% tập trung ở đông bắc Bạc Liêu và huyện Giá Rai; người Hoa chiếm 3,3%. Là vùng đất trù phú thịnh vượng, người dân Bạc Liêu hiền hoà, hiếu khách, có phong cách sống phóng khoáng đặc trưng của vùng Nam Bộ.

Giao thông

Bạc Liêu cách thành phố Hồ Chí Minh 280km, Cà Mau 67km, Sóc Trăng 50km và Cần Thơ 113km. Giao thông đường bộ rất thuận lợi. Có quốc lộ 1A chạy ngang qua tỉnh.

Bà Rịa – Vũng Tàu

Bà Rịa – Vũng Tàu

Diện tích: 1.989,5 km² Dân số: 1.039,2 nghìn người (2012). Tỉnh lỵ: Thành phố Bà Rịa Các huyện, thị: – Thành phố: Vũng Tàu – Huyện: Châu Đức, Xuyên Mộc, Tân Thành, Long Điền, Đất Đỏ, Côn Đảo. Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chơ Ro… 

BRVT_TPho

Thành phố Vũng Tàu

Điều kiện tự nhiên và khí hậu

Bà Rịa – Vũng Tàu giáp tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, giáp tỉnh Bình Thuận ở phía đông, giáp huyện Cần Giờ của Tp. Hồ Chí Minh ở phía tây, còn lại phía nam và đông nam giáp biển.

Địa hình của tỉnh bao gồm núi, đồi, đồng bằng nhỏ và các đồi cát, dải cát chạy vòng theo bờ biển. Đất Châu Thành là vùng phù sa cũ, ít dốc. Các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc là vùng đồng bằng và đồi, núi ven biển.

Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

Khí hậu: Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm 27ºC, ít gió bão, giàu ánh nắng.

Bà Rịa – Vũng Tàu có chiều dài bờ biển phần đất liền là 100km (trong đó 72km là bãi cát có thể sử dụng làm bãi tắm). Thềm lục địa tỉnh tiếp giáp với quần đảo Trường Sa, nơi đây chứa đựng hai loại tài nguyên cực kỳ quan trọng là dầu mỏ và hải sản.

Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều hồ chứa nước loại lớn như Kim Long, Đá Đen, Đá Bàn, Châu Pha, Sông Soài, Lồ Ô, Suối Giàu… Nhiều sông như sông Ray, sông Bà Đáp, sông Đông…, và có trên 200 con suối, đặc biệt suối nước nóng Bình Châu nóng 80oC là một tài nguyên nước khoáng quý.

Vũng Tàu là một trung tâm du lịch lớn. Sự kết hợp hài hoà giữa quần thể thiên nhiên biển, núi cùng kiến trúc đô thị và các công trình văn hoá như tượng đài, chùa chiền, nhà thờ… tạo cho Vũng Tàu có ưu thế của thành phố du lịch biển tuyệt đẹp, đầy quyến rũ. Vũng Tàu không có mùa đông, do vậy các khu nghỉ mát có thể hoạt động quanh năm.

Vũng Tàu có nhiều bãi biển đẹp như bãi Sau (Thùy Vân), bãi Trước (Tầm Dương), bãi Dâu (Phương Thảo), bãi Dứa (Hương Phong),… và nhiều di tích, thắng cảnh như Hải Đăng trên núi Nhỏ, núi Lớn, Bạch Dinh, Niết Bàn Tịnh Xá, Thích Ca Phật Đài, nhà lớn Long Sơn… đã thu hút nhiều du khách.

– Thành phố Vũng Tàu hiện nay là một trong mười trung tâm du lịch lớn của Việt Nam.Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 4 khu vực có tiềm năng phát triển du lịch lớn:

– Vùng rừng quốc gia Côn Đảo.

– Bờ biển Long Hải và vùng núi Minh Đạm.

– Vùng rừng nguyên sinh Bình Châu – Phước Bửu và suối nước khoáng nóng Bình Châu.

Ở đây, du khách có thể bách bộ, leo núi, tắm biển, vui chơi giải trí.

Giao thông

Bà Rịa – Vũng Tàu có quốc lộ 56 đi Đồng Nai, quốc lộ 55 đi Bình Thuận, quốc lộ 51 đi huyện Cần Giờ (Tp. Hồ Chí Minh). Vũng Tàu cách Tp. Hồ Chí Minh 129km, cách Biên Hòa (Đồng Nai) 95km, cách Nha Trang (Khánh Hòa) 513km.

Từ Tp.Hồ Chí Minh đến Vũng Tàu có 6 tuyến xe chất lượng cao xuất phát trước chợ Bến Thành, 30 phút có một tuyến, thời gian chạy từ 2 đến 3 giờ. Xe khách đi từ bến xe Miền Đông, thời gian từ 3 đến 4 giờ. Ngoài ra còn có tàu cánh ngầm Tp.Hồ Chí Minh – cảng Cầu Đá (Vũng Tàu), 30 phút một chuyến, chạy mất 1h15 phút.