Thẳm Tát Tòng

Tên di sản:

Thẳm Tát Tòng

Địa điểm:

Bản Bó, Phường Chiềng An, Thành phố Sơn La

Vùng:

Quốc lộ 6

Ý nghĩa lịch sử:

1. Địa điểm phân bố, đường đi đến

Di tích Thẳm Tát Tòng, nằm ngay cạnh Bản Bó, xã Chiềng An, Thị xã Sơn La. Vị trí của di tích nằm về phía Đông, Bắc thị xã Sơn La, cách trung tâm thị xã 2km.

Từ trung tâm thị xã Sơn La, ta đi theo đường ô tô Sơn La – Thủy điện Tạ Bú, đến cầu Bản Cá (1km+500) ta rẽ tay trái đi theo đường vào Bản Bó khoảng 500 mét là tới di tích.

Đường tới di tích thuận lợi, đi được bằng mọi phương tiện.

2. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích

            Di tích Thẳm Tát Tòng, là một hang đá tự nhiên nằm ở dưới một dãy núi lớn trùng điệp chảy theo hướng Đông bắc thị xã Sơn La, nước trong hang chảy ra bốn mùa trong xanh. Đứng từ xa ta thấy phong cảnh ở đây thật là tuyệt đẹp phía trên là dãy núi trùng điệp chạy dài, cây phủ xanh ngắt, ở dưới là dòng nước từ hang chảy ra, đổ qua thác tung bọt trắng xóa. Mỗi buổi sáng ban mai khi mặt trời lên ánh nắng hắt lên từ miệng hang in hình xuống nước, tạo thành những tia lấp lánh trên những mảnh thạch nhũ, nhấp nhô nhiều hình nhiều vẻ khác nhau, càng tôn thêm vẻ đẹp của di tích.

           Trong truyền thuyết của nhân dân địa phương trong vùng kể lại: Nước trong hang Tát Tòng được bắt nguồn từ xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu (cách khoảng 25km) chảy về hang tạo ra dòng nước từ Hang Tát Tòng đổ vào suối Nậm La ngày nay. Và đặc biệt dòng suối này, về mùa hạ mát mẻ bao nhiêu thì mùa đông càng ấm áp bấy nhiêu.

             Dòng nước chảy từ đầu nguồn xa tít về Mường La chảy qua bao thác ghềnh, qua bao dãy núi. Theo truyền thuyết kể lại đấy là hình ảnh tượng trưng chàng trai không quản khó khăn, qua bao thác ghềnh, đèo cao lũng sâu từ mạn ngược xa xôi, xuống hỏi vợ ở vùng thấp, đó là vùng Mường La ngày nay.

              Còn dòng nước trong hang chảy ra, đã tự bao đời nay phục vụ nhân dân địa phương, làn nước trong xanh đã tăng thêm vẻ đẹp làn da cảu những cô thiếu nữ trong vùng. Chính vì vậy mà ở địa phương đã có câu ca:

“Bâu đẩy kim tán noong luông pên bả

Bâu đẩy suối nả mắm Bó Cá pên máu”

Có nghĩa là:

“Không được ăn rêu noong luông sẽ điên

Không được rửa mặt nước Bó Cá sẽ dồ”.

            Địa thế của hang nằm riêng biệt, phong cảnh ở đây thật là tĩnh mịch, cho nên dưới chế độ phong kiến bọn phìa tạo địa phương đã dùng hang này để làm chỗ vui chơi xa xỉ của chúng. Hàng năm cứ đến mùa xuân khoảng tháng 2,3 âm lịch, bọn chúng bắt nhân dân trong vùng đóng thuyền, bè đưa chúng vào trong hang chơi, nghỉ mát, ngắm cảnh, cờ bạc, rượu chè. Chúng cho rằng hang này thiên nhiên tạo nên là để dành riêng cho bọn quan lớn, bọn chúng không muốn cho nhân dân lao động được hưởng sự vui chơi, nghỉ ngơi ngắm cảnh. Từ đó, chúng đã tạo ra nhiều chuyện hoang đường, mang tính chất thần thánh hóa về hang, làm nghi hoặc  nhân dân, cấm nhân dân không  được vào hang đó. Chúng đã tung ra những cấu: “Nước Sơn La, ma Hòa Bình”, nước Sơn La ở đây ý muốn nói chính là con suối Bó Cá rất độc, và rất thiêng…

          Ngược lại, từ khi hòa bình lập lại, dòng nước Bó Cá trở nên hiền lành, ngoan ngoãn phục vụ đời sống của nhân dân các dân tộc Sơn La. Đó là một nguồn nước vô tận, cung cấp nước cho đời sống của nhân dân địa phương, và tưới nước cho hai cánh đồng lớn, đó là cánh đồng Bản Bó và Bản Cá.

            Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hang Tát Tòng lại trở nên quan trọng, cơ quan đầu não của tỉnh đã đặt trụ sở tại đây để chỉ đạo nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ tháng 6 đến tháng 10/1945. Sau đó các cơ quan của huyện Mường La cũng dùng nơi này làm trụ sở trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ từ tháng 10 năm 1965 đến cuối năm 1973. Trong suốt quá trình đó, tại đây đã diễn ra các cuộc hội nghị quan trọng cảu huyện Mường La. Tính từ năm 1965 đến cuối năm 1979 đã có 3 khóa Hội đồng nhân dân và 4 lần đại hội Đảng được mở tại đây.

3. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

             Quần thể di tích Hang Tát Tòng là một thắng cảnh hoàn toàn do thiên nhiên tạo nên. Không những về cảnh đẹp tại nơi đây mà di tích còn mang tính chất truyền thống, đó là một hình ảnh đẹp, tình đoàn kết dân tộc, giữa miền ngược và miền xuôi. Ngoài ra còn có ý nghĩa lịch sử đối với nhân dân các dân tộc Sơn La trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

4. Tình trạng bảo quản di tích

             Thực trạng của di tích hiện nay còn nguyên vẹn: Vào năm 1962 đó nhu cầu nước sinh hoạt của thị xã Sơn La, nhà máy nước tỉnh Sơn La đã xây đập chắn nước ngoài cửa hang, cách cửa hang 30m để lấy nước. Do vậy ngay tại cửa hang đã tạo nên một hồ nước lớn càng tôn thêm vẻ đẹp của hang.

Hiện nay mực nước ngoài cửa hang là 4m đi thoải thoải vào trong là 10m, tạo điều kiện cho du khách đi thuyền vào thăm quan.

Di tích được bảo quản giữ nguyên hiện trạng, không bị sự phá hoại của thiên nhiên và con người.

Sưu tầm

Advertisements

Tháp Mường Và

Tên di sản:

Tháp Mường Và

Địa điểm:

Bản Mường Và

Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

1. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích

Mường Và (theo tiếng địa phương) có nghĩa là một miền đất đông người tập trung sinh sống. Đất đai mầu mỡ phì nhiêu, có cánh đồng bằng phẳng thẳng cánh cò bay và cũng là nơi có cảnh đẹp.

           Theo truyền thuyết kể lại rằng. Cách đây khoảng 400 năm có một ông thầy địa lý người Hoa đi qua vùng đất nông thấy có cảnh đẹp, về địa lý lại thuận lợi. Đằng sau bản Mường Và là dãy núi chạy dài, đằng trước là một cánh đồng rộng lớn, có suối chảy qua. Dựa theo thuyết phong thuỷ có nghĩa là một vùng đất đẹp và ổn định. Ông thầy địa lý đã bàn với Chẩu Hua (có nghĩa là người đứng đầu trong vùng) để xây dựng chùa và tháp.

           Chẩu Hua đã huy động lực lượng nhân dân trong vùng khởi công đắp quả đồi ngay tại trung tâm xã. Đất đắp đồi này được lấy từ hai bên cạnh và đằng sau tháp (hiện nay xung quanh tháp còn 3 chiếc hồ lớn). Sau khi đắp đồi xong, Chẩu Hua cho xây tháp và dựng chùa (bởi tháp và chùa là nơi trọng tâm sinh hoạt không thể thiếu được của các bản làng. Không những là nơi nhân dân đến lễ phật, nghe kinh, mà còn là nơi tập hợp toàn dân vào những ngày hội lớn, nhỏ và những khi bàn bạc đến những vấn đề liên quan tới lợi ích chung).

Do vậy tháp Mường Và được xây dựng lên bởi lợi ích chung của nhân dân trong vùng.

2. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

Di tích tháp Mường Và có một giá trị về mặt văn hoá, nghệ thuật và mang đặc tính về nét văn hoá và tôn giáo của dân tộc Lào tại Tây Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng.

             Qua hình dáng của tháp và những nét hoa văn trang trí, tháp Mường Và không giống bất cứ tháp nào tại Việt Nam (đây là một loại kiến trúc tương đối đặc biệt). Do vậy tháp Mường Và tồn tại sẽ góp phần vào trong ngành khoa học, nghiên cứu các tháp cổ tải Việt Nam.

3. Tình trạng bảo quản hiện vật

Trải qua quá trình thời gian lâu dài. Tháp không được sự bảo quản. Cho nên tình trạng thiên nhiên phá huỷ tương đối nặng.

Cụ thể là: Năm 1965 máy bay Mỹ bắn phá đã phá hỏng đỉnh tháp và làm mất toàn bộ vữa trát xung quanh (phá đứt ngọn tháp 0,60m).

Động đất năm 1983 làm cho tháp bị nứt dọc, vôi vữa trát xung quanh hiện nay bị bong lở nhiều, phần chân tháp bị mất hoàn toàn. Nhiều hoa văn quanh tháp và các điểm quan trọng bị mất.

Toàn bộ hệ thống vữa trát về phía Tây bị mất hoàn toàn từ trên xuống dưới.

Sưu tầm

Tháp Mường Bám

Tên di sản:

Tháp Mường Bám

Địa điểm:

Mường Bám, Thuận Châu

Vùng:

Ý nghĩa lịch sử:

1. Tên gọi: Tháp Mường Bám

                           Tên di tích được gọi theo địa danh xã Mường Bám.

          Tên gọi khác: Thạt Bản Lào (Thạt tiếng Lào có nghĩa là Tháp)

          Tháp bản Lào nằm ở vị trí trung tâm bản, nơi có nhiều đồng bào dân tộc Lào của xã tập trung sinh sống. Kiến trúc của Tháp mang đậm nét kiến trúc Tháp của dân tộc Lào. Do vậy nhân dân địa phương thường gọi là Tháp bản Lào.

2. Địa điểm và đường đi đến

          Di tích thuộc xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, cách trung tâm thị trấn Thuận Châu hơn 70 km về phía Tây- Nam

          Từ trung tâm thị trấn Thuận Châu, theo quốc lộ 6 hướng đi Điện Biên khoảng 600m rẽ tay trái vào đường tỉnh lộ 108, đi 45km đến thị tứ Co Mạ.

          Từ thị tứ Co Mạ đi Mường Bám khoảng 28km là tới di tích.

          Đường đến di tích thuận lợi bằng các phương tiện: ôtô, xe máy, xe đạp

3. Phân loại di tích

          Căn cứ vào kết quả điều tra, khảo sát, nghiên cứu di tích theo quy định tại điều 11 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thì di tích thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật.

4. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích

          Ngay từ buổi đầu dựng nước, Sơn La đã là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam. Trải qua dòng chảy thời gian của tiến trình lịch sử cùng với sự phát triển và những biến cố trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đơn vị hành chính Sơn La cũng có sự thay đổi. Thời kỳ dựng nước, các vua Hùng chia nước Văn Lang thành 15 bộ. Sơn La thuộc bộ Tân Hưng, mảnh đất phên dậu của nước Việt Nam thống nhất từ xa xưa.

          Thời nhà Lý (1010- 1225), ở miền lưu vực sông Đà, trong đó có vùng đất Sơn La, thuộc châu Lâm Tây. Thời Trần (1225-1400) thuộc đạo Đà Giang. Vào cuối đời Trần, năm Quang Thái thứ 10 (năm 1397) vùng đất này được đổi thành trấn Thiên Hưng. Trấn Thiên Hưng đời nhà Trần có hai Châu (Phủ) là Gia Hưng và Quy Hoá.

          Đến đời nhà Lê, theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, thì phủ Gia Hưng có một huyện, 5 châu, 42 động. Đó là huyện Thanh Xuyên, gồm 1 thôn, 2 động và các châu: châu Việt, châu Mai. Thuộc địa bàn 5 châu này thì 4 châu chính là vùng đất Sơn La hiện nay.

          Châu Thuận (huyện Thuận Châu ngày nay) có 10 động. Theo sách “Hưng Hoá phong thổ lục” của Hoàng Bình Chính, thì vào đầu đời Lê Cảnh Hưng, khoảng thời gian trị vì của chúa Trịnh Sâm (1767-1783), triều đình thấy địa thế Châu Thuận quá rộng mới cắt đặt thêm 3 châu là Sơn La (hay huyện Mường La ngày nay), Mai Sơn, Tuần Giáo. Như vậy vùng đất Thuận Châu vào thời nhà Lê gồm đất huyện Tuần Giáo của tỉnh Lai châu (nay là tỉnh Điện Biên) và các huyện Mai Sơn, mường La, Thành phố Sơn La và huyện Thuận Châu của tỉnh Sơn La hiện nay.

          Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, địa bàn Sơn La có các đơn vị hành chính như sau:

          Ngày 24-5-1886, Tổng Trú sứ Trung- Bắc Kỳ ra nghị định chuyển châu Sơn La (thuộc phủ Gia Hưng tỉnh Hưng Hoá) thành một đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh. Ngày 9-9-1891, Toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định thành lập thủ phủ Sơn La đặt tại Sơn La. Tỉnh Sơn La lúc đó gồm các châu: Châu Thuận, Mường La, Mai Sơn, Châu Yên, Châu Mộc, Phù Yên, Tuần Giáo, Điện Biên, Châu Lai, Quỳnh Nhai và Phủ Luân Châu. Tên tỉnh Sơn La có từ đó, nhưng địa bàn rộng lớn, bao gồm tỉnh Sơn La hiện nay và phần lớn tỉnh Lai Châu bấy giờ.

          Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sơn La thuộc các Chiến khu II, Khu XIV, Liên khu X, Liên khu Việt Bắc, và Khu Tây Bắc. Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, Khu uỷ Tây Bắc quyết định chuyển huyện Thuận Châu về tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên). Đến tháng 2-1954 huyện Thuận Châu trở lại thuộc tỉnh Sơn La.

          Như vậy trải qua tiến trình phát triển của đất nước, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thuộc vào vùng đất của tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) từ thời kỳ nhà Lý cho tới những năm cuối thế kỷ XIX. Qua việc phân cấp cơ cấu về địa giới hành chính và quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã có những tác động và biến động liên quan đến việc cư trú của các dân tộc tỉnh Sơn La nói chung, huyện Thuận Châu, xã Mường Bám nói riêng. Kết quả ấy đã để lại những công trình kiến trúc, dấu tích lịch sử mang đậm đà bản sắc quốc gia đa dân tộc. Đó là Tháp Mường Bám, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVI, mà những dấu tích còn lại đến nay, thì thuộc thê kỷ XIX.

          Xã Mường Bám (theo nghĩa địa phương là một vùng đất “bám vào con suối”, tức suối Nậm Húa, để sinh sống) là một xã vùng sâu và xa của huyện Thuận Châu, địa hình trải dài theo dòng suối có vị trí nằm trong vùng lòng chảo thượng lưu cả một số khu vực khác. Cách huyện Thuận Châu khoảng 70 km về phía Tây- Nam (trước kia vùng đất này thuộc tỉnh Lai Châu (bây giờ là tỉnh Điện Biên) hiện nay, ở cách trung tâm thành phố Điện Biên khoảng 150km về phía Đông Nam. Cư dân sinh sống ở đây chủ yếu dựa vào hai bờ của dòng suối Nậm Húa để làm nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản, khai thác lâm sản…

          Xã Mường Bám, huyện Thuận Châu là địa bàn cư trú tập trung chủ yếu của hai dân tộc. Đó là dân tộc Lào và dân tộc Thái. Từ rất lâu đời, người Lào đã cư trú và sinh sống tại mảnh đất Sơn La. Và họ đã trở thành một trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Hiện tại khu vực bản Lào, xã Mường Bám hiện nay còn lại một cụm tháp cổ do dân tộc Lào xây dựng.

          Cùng với tháp Mường Luân thuộc huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tháp Mường Bám (Thuận Châu, Sơn La) do dân tộc Lào xây dựng       cùng trong một khoảng thời gian. Tương truyền, vào năm 1569 triều đình Miến Điện đem quân tấn công nước Lào. Đứng trước nạn xâm lược của quân Miến Điện, dân tộc Lào nhỏ bé không đủ khả năng chống cự. Do vậy một bộ phận người Lào ở vùng Thượng Lào phải lánh nạn sang các tỉnh biên giới Đại Việt cư trú, trong đó có Điện Biên hiện nay. Đến năm 1594 chiến tranh Miến – Lào kết thúc, nhưng một bộ phận người Lào không trở về Lào mà ở lại định cư tại Điện Biên, phát triển và mở rộng địa bàn cư trú về hướng Đông Nam dọc theo các thung lũng, ven sông suối (trong đó có xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ngày nay).

          Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào thế kỷ V trước công nguyên. Theo đường biển, từ hướng Đông, các nhà sư đã đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên. Luy Lâu trị sở quận Giao Chỉ đã sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Từ đây Phật giáo Ấn Độ đã được truyền trực tiếp vào Việt Nam ngay từ đầu công nguyên. Trong con mắt người Việt Nam xưa sinh sống bằng nông nghiệp, Phật trong chùa được hình dung như một vị thần linh toàn năng có mặt ở khắp nơi, luôn sẵn sàng xuất hiện để cứu giúp người tốt trừng trị kẻ xấu.

          Thời kỳ Lý-Trần, phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh và lan toả đi khắp nơi. Nhưng đó là Phật giáo Đại Thừa

          Là cư dân nông nghiệp lúa nước vùng Đông Nam Á, dân tộc Lào và một số dân tộc khác cũng có phong tục thờ Phật trong Chùa. Và đây là Phật giáo Tiểu thừa đến từ phương Tây. Do vậy khi định cư chung sống cùng đồng bào các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, họ vẫn giữ nguyên truyền thống đó. Họ xây dựng chùa và tháp ở nơi định cư để tiện cho việc thờ cúng và là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của cộng đồng.

          Vào thời gian  khoảng từ các năm 1569-1594 (tức Phật lịch 2113-2138) với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cư dân bản địa với bà con dân tộc Lào tại địa phương đã dồn công, góp của để xây dựng Tháp Mường Bám. Theo truyền thuyết vùng đất Mường Bám có một trái núi mang dáng dấp một người đang ngồi Thiền, theo dáng “Hua táng Keo, eo táng Lào” có nghĩa là: Đầu quay về đất Việt, lưng quay sang đất Lào. Theo truyền thuyết này nói lên tình đoàn kết keo sơn Việt-Lào.

          Căn cứ vào kết quả điều tra, khảo sát của Bảo tàng tỉnh Sơn La và kết quả đợt điền dã giữa Sở VHTT&DL Sơn La, Bảo tàng tỉnh và đoàn công tác của Giáo sư sử học Lê Văn Lan tháng 6/2011, có thể khẳng định Tháp Mường Bám là một công trình kiến trúc nghệ thuật mang đậm yếu tố Phật giáo dòng tiểu Thừa được xây dựng từ thế kỷ XVI. Nhưng những gì là hiện tồn của tháp, thì có đặc trưng kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XIX.

          Sách “Đại Nam nhất thống chí”, biên soạn và khắc in trong khoảng các năm  1856-1883, đã ghi chép lại sự kiện xây dựng, và sự hiện diện của hệ thống chùa, tháp tại khu vực Tây Bắc. Bao gồm tháp Mường Và (huyện Sốp Cộp), tháp Mường Bám (huyện Thuận Châu), tháp Mường Luân (huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên

           Những hạng mục công trình trong quần thể di tích Phật giáo ở đây gồm: Tháp, Chùa. Khu vực nhà ở – sinh hoạt của các nhà sư. Sân Chùa, Tháp là nơi sinh hoạt cộng đồng của dân bản.

5. Sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng liên quan đến di tích

          Theo kết quả điền dã dân tộc học trước kia, tại khu vực Tháp vào tháng 4 dương lịch hàng năm có tổ chức “lễ cầu mưa” vào vụ mùa mới. Hiện nay, tại đây không còn tổ chức nữa.

6. Khảo tả di tích

          Dựa theo thuyết phong thuỷ, đồng bảo dân tộc Lào ở Mường Bám xưa đã chọn đất kỹ lưỡng để xây dựng tháp. Tháp được xây trên một quả đồi thiên tạo có bề mặt rộng khoảng 1ha. cách bờ suối Nậm Húa (phần đầu nguồn của dòng sông Mã) khoảng 300m, gồm một quần thể 5 tháp, một tháp to ở giữa và 4 tháp con ở 4 cạnh tháp to, theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mặt Tháp quay về hướng Đông và nhìn ra ngã ba suối Nậm húa có núi án ngữ làm bình phong. Núi chắn hai bên theo hướng Bắc, Nam tựa thế tay ngai. Trước mặt tháp là ngã ba suối, uốn khúc chạy lượn “chi huyền thuỷ”. Từ trái sang phải, phía sau Tháp có dẫy núi tựa người đang ngồi “thiền”. Quần thể Tháp có vị thế rất tĩnh lặng, uy nghi.

          Về cấu trúc vật liệu: Tất cả 5 tháp đều được xây bằng một loại vật liệu, chủ yếu là gạch vồ màu đỏ, kích thước lớn dài 35cm, rộng 15cm, dày 7cm được gắn kết với nhau bằng vôi, cát, và mật. Các hoạ tiết hoa văn được làm bằng vữa đắp nổi, nhiều chỗ gắn thêm vào những hình đất nung trang trí.

A. THÁP TO

          Tháp to còn gọi là Tháp Mẹ, cao 13m, chia làm 4 tầng. Đế tháp hình vuông, mỗi cạnh có chiều dài 2,60m

1. Tầng 1

          Tầng 1 là toàn bộ phần chân đế tháp, có chiều cao 1,20m, hình vuông cạnh dài 2,60m. Phần chân tháp được đắp 3 đường gờ nổi chườm ra, vo tròn xung quanh chân đế và cắt vuông góc 30cm xuống tới mặt đất Được trang trí chủ yếu hoa văn hình Voi, Hổ và tượng Vũ Nữ nhảy múa. Tất cả các hoạ tiết hoa văn này đều đắp nổi (có chiều cao 27 cm). Phía trên đế thu nhỏ dần, còn 2,20m, làm phần đế đỡ cho tầng 2.

2. Tầng 2

           Tầng 2 cao 4 m, hình chóp cụt, có 8 cạnh được chia làm 5 phần nhỏ, có đường nổi vo tròn chạy xung quanh

          + Phần 1 là đế: Được thu vát dần lên, cao 0,40m, xung quanh là 8 mô típ hoa văn, trang trí hình lá đề uốn theo hình mây, phía ngoài bao bọc lớp hoa văn hoa cúc, hoa chanh cách điệu.

          Lớp hoa văn này có độ rộng là 7 cm, trong là 2 đường kẻ chỉ song song, phía ngoài được chạy chuỗi dây cánh hoa cúc nhô ra. Phía ngoài cùng 2 loại hoa văn này được trang trí hoa văn hình vòi Voi được cuộn sang hai bên. Ở giữa hai vòi Voi có hình “Vô ưu”. Đầu vòi voi nhỏ được cuộn tròn 1,5 vòng. Tiếp đến nửa thân phía trên được uốn hình vòng cung nhẹ, đến giữa thân được cuộn tròn gấp khúc, phía dưới đuôi được phình ra, dáng cong mềm mại. Vòi Voi  được vắt cong hình dấu hỏi (?)

          – Hoa văn ở phần đầu vòi voi cuộn tròn gấp khúc đến phần giữa thì có hoa văn hình cánh Hoa chanh. Phần bụng vòi Voi có hoa cúc chạy suốt thành chuỗi, đầu cánh hoa cúc quay về phía lưng vòi voi có độ rộng 9cm.

          – Hoa văn phần đuôi vòi Voi: Từ giữa thân tròn gấp khúc về phía đuôi phình ra, dáng cong mềm mại có độ rộng 12cm, cuối đuôi được vắt cong hình dấu hỏi, phía dưới bụng vòi Voi là một đường chỉ chạy gờ nổi. Từ đường chỉ này được gắn một băng hình “vẩy”, “cánh hoa chanh” chạy tiếp, nối tiếp nhau xung quanh tháp.

          + Phần 2: Cao 0,40m, phía trên là đường gờ nổi, nhô ra khỏi thân tháp 15cm, phía dưới đường gờ nổi này được tạo hai đường vòm chỉ nổi, phía dưới đường chỉ nổi này được tạo hoa văn hình vòm cửa chạy liên tục quanh thân tháp, đối xứng nhau trên và dưới được đắp bằng vữa, đứng từ xa có cảm nhận như một chuỗi “tràng hạt”.

          + Phần 3: Cao 0,70m, phía trên được đắp gờ nổi, hoa văn phần này giống phần 2

          + Phần 4: cao 0,50m được xoè hình lá sen để đỡ cho phần 5, toàn bộ phần thân không trang trí hoa văn.

          + Phần 5: Cao 1m được xoè hẳn ra, hình lá sen để đỡ cho toàn bộ tầng 3. Phần này không trang trí hoa văn.

3. Tầng 3

           Tầng 3: Cao 6 m, trông giống như một hình quả trám thon ở hai đầu phình to ở giữa, phần  dưới thon to hơn phần trên.

           Tầng 3 được chia làm hai phần đế và thân:

          + Phần đế cao 0,60m, chia làm 3 phần trang trí hoa văn khác nhau

          – Phần 1: là phần dưới của đế, nơi tiếp giáp với tầng 2, được phủ kín quanh tháp bằng một chuỗi hoa văn “tràng hạt”

          – Phần 2 là dải hoa văn có độ rộng 30cm, hình rắn thần” Naga 5 đầu. Ở đây đầu rắn có hình tam giác, thân uốn lượn hình “Sin”thân rắn được trang trí hoa văn như hoa cúc, hoa chanh, được chạy kín xung quanh tháp. Phía trên hoa văn hình rắn là hoa văn hình “tràng hạt” như phần dưới.

          – Phần 3 được trang trí dải hoa văn lá đề, hình mây, rắn, chạy vòng xung quanh, bên trong là hình dây hoa chanh. Nhìn từ xa ta có cảm nhận tháp được mọc lên từ đài sen, hay là một chiếc “vương miện”

          Những hoa văn hình lá đề và 1/2 lá đề, chất liệu được làm bằng đất nung màu đỏ bên trong được trang trí các hình như:

          Loại hoa văn nguyên hình lá đề: Bên trong lá đề được trang trí hai con rồng nhỏ chạy song song của hai mép lá đề. Đuôi Rồng ở phía dưới cuống đầu Rồng ngóc lên chụm vào ngọn lá đề. Phần bên trong được trang trí hoa văn hình học.

          Loại hoa văn 1/2 lá đề: Bên trong chủ yếu được trang trí hoa văn hình học.

          Gạch hình lá đề (đế rộng 13 cm, trên thu lại 4 cm, cao 27 cm) được dùng chủ yếu vào việc trang trí ở các góc của tầng 3 và tầng 4. Được trang trí hai hàng so le, đứng từ xa ta có cảm giác như búp sen đang hé nở.

          + Phần thân tháp:

          Thân tháp được thu lại đến 1/3 thân thì phình ra, phần cuối thân lại được thu nhỏ lại vót lên đến đỉnh tầng 3 để tạo thành hình chiếc lọ.

          – Toàn bộ thân tháp được đắp trơn không trang trí hoa văn.

4. Tầng 4

          Tầng 4 cao 1,80m, được chia làm hai phần đế và thân

          – Phần đế: Cao 0,40m được cuốn thành hình hoa sen cụp xuống, phía trên đắp 3 hình kẻ chỉ nổi.

          – Phần thân: được thu nhỏ dần, gồm 4 cạnh. Đế tầng 4 thu nhỏ lại đến 1/3 thân thì lại phình ra, rồi thu nhỏ lại, vút lên đến đỉnh tháp. Toàn bộ thân không trang trí hoa văn, trông xa như một búp sen đang hé nở.

B. THÁP NHỎ

          Các Tháp nhỏ được xây dựng với kiến trúc và trang trí hoa văn giống hệt nhau. Được xây dựng chiều 4 cạnh của Tháp to theo 4 hướng Đông- Tây- Nam- Bắc, và cách Tháp to 3 mét.

          Tháp nhỏ còn gọi là Tháp Con, có chiều cao 3,70m, đế hình vuông, mỗi cạnh 1,20m chia làm 4 tầng.

1. Tầng 1

          Tầng 1 cao 0,80m, nửa phía dưới cùng là hình vuông, xung quanh được đắp 3 hàng chỉ nổi, nửa phía trên được vát vào, làm đế cho tầng 2. Hoa văn chủ yếu ở tầng này là hoa văn lá đề xen kẽ hình vân mây, dây hoa cúc và hoa đồng tiền.

          4 cạnh chân tháp được đắp 4 lá đề nổi, to, ôm gọn 4 góc, bên trong có 2 đường chỉ chìm chạy song song.

2. Tầng 2

          Tầng 2 cao 0,80m, phía dưới được thắt nhỏ lại, có hai đường chỉ nổi nhô ra khỏi thân, phía trên được xoè ra giống như một đài sen để đỡ lấy tầng 3.

          4 góc được đắp 4 lá đề nổi(đế rộng 8 cm,phía trên được thắt vào 2 cm, cao 20cm), to ôm gọn 4 cạnh của tầng 2. Mũi lá đề hướng lên phía trên, bên trong lá được trang trí hình vân mây và dây hoa cúc.

          Thân tháp không trang trí hoa văn.

3. Tầng 3

          Tầng 3 cao 1,40m chia làm hai phần đế và thân

          + Phần đế: Cao 0,40m, đế hình vuông được trang trí 2 đường hoa văn nối nhau.

          Đường 1 (giáp tầng 2) hoa văn với những lá đề hình rắn cuộn tròn đầu ngóc lên hướng tới lá đề, trong lá đề được trang trí hoa văn hình đuôi công, ở dưới có đường chỉ nổi. Tiếp đến là dải hoa văn hình “tràng hạt” cách nhau bằng những dải vạch đứng, được chạy vòng quanh tháp.

          Đường hoa văn 2 (tiếp giáp với đường hoa văn 1) đường này chủ yếu là hoa văn hình ”Cửa vòm” bên trong được vạch 3 đường chỉ chìm theo hình vòm; đường hoa văn này được trang trí kép (nghĩa là có lớp trong và lớp ngoài). Đứng xa ta có cảm nhận như một đài sen đang nở.

          + Phần thân: Mang hình một chiếc lọ, có 4 cạnh, chân được thu lại đến 1/3 thì loe ra rồi lại thu vát lên hết tầng 3

          Toàn bộ thân không trang trí hoa văn

          (Tất cả những dải băng hoa văn được trang trí tại đây có chiều rộng là o,10m. Những dải băng cách nhau là 0,25m)

4. Tầng 4

          Cao 0,70 m, ở phía dưới chân được trang trí hoàn toàn hoa văn lá đề gắn xếp làm 3 lớp. Phần trên không trang trí hoa văn, được thu nhỏ dần, vút lên nền trời.

          Trong khuôn viên ở quanh khu vực xây tháp, còn lại vết tích chùa và khu vực các sư ở.

          Nền chùa: Ở cách Tháp to 4m về phía Nam, có diện tích: Rộng 4m, Dài 6m. Theo tương truyền : Trước kia tại chùa này liên tục có 2 sư túc trực để làm lễ, đánh chuông và trông coi, quét dọn Tháp.

          Khác với mọi nơi, chùa ở đây được làm bằng gỗ, hai mái chảy. Mái được lợp bằng gianh.

          Khu vực nhà của các Sư ở có diện tích khoảng 300m2: Khu vực này cách Tháp khoảng 200m về phía Bắc. Tại đây trước kia có một ngôi nhà sàn được làm bằng gỗ. Hằng ngày tại đây có 10 sư ở để thay phiên nhau lên trực trên chùa.

          Hiện nay, di tích còn lại một tháp to (tháp mẹ) và một tháp nhỏ (tháp con).

          Bên cạnh tháp to, còn có pho tượng “chư thần” ngay dưới chân tháp đã bị vỡ hết (hiện chỉ còn bệ tượng)

          Qua khảo sát bước đầu đã phát hiện ra hiện vật khảo cổ học nằm ở phía đông (trước mặt tháp) cách khoảng 40m. Đó là một chiếc “cuốc đá” (“lưỡi mài đá”)

          Tình trạng hiện vật còn lại ½, từ phần thân đến lưỡi đã bị mất, lưng và hai cạnh của cuốc đã được mài, còn lại độ dài là 21cm, rộng phần lưỡi là 15cm.

          Hiện vật có niên đại cách ngày nay khoảng 4000 năm

7. Sơ đồ phân bố di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích

          Hiện di tích không còn hiện vật gì.

8. Giá trị lịch sử,  văn hoá, khoa học thẩm mỹ của di tích

          Tháp Mường Bám là một công trình kiến trúc mang đậm yếu tố Phật giáo phái Tiểu Thừa, do đồng bào dân tộc Lào cư trú tại địa phương xây dựng lên. Với loại hình điêu khắc trên kiến trúc, với những đường nét hoa văn trang trí và bố cục xây dựng quần thể kiến trúc Tháp, có thể thấy dấu tích kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XIX của một tòa tháp được xây dựng từ khoảng thế kỷ XVI.

          Theo ý kiến nhận xét của Giáo sư Sử học Lê Văn Lan: “Đồng bào Lào trong cộng đồng cư dân các dân tộc Việt Nam ở Tây Bắc, ở Sơn La,  Thuận Châu và ở ngay xã Mường Bám, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 và cho đến tận bây giờ, đã đóng góp cho sự phát triển của lịch sử – văn hóa của đất nước và dân tộc Việt Nam công cuộc xây dựng, vận hành, và bảo tồn công trình tháp cổ Mường Bám, rất đặc sắc trên cả hai phương diện ‎sau đây:

          – Làm nên một đặc sắc của sự giao thoa văn hóa Việt Lào – biểu hiện và cơ sở của mối quan hệ đặc biệt Việt Lào trong lịch sử trên đất Tây Bắc và Sơn La.

          – Cũng là nét đặc sắc của sự làm giàu nền văn hóa Phật giáo ở Việt Nam, khi đem cộng những kiến trúc Phật giáo Tiểu thừa ( có nguồn gốc Ấn Độ, nhưng đến từ phía Tây, bằng đường bộ) này, với những kiến trúc chùa tháp Đại thừa (đến từ phía Đông bằng đường biển).”

          Cùng với hệ thống, các Chùa và Tháp ở khu vực Tây Bắc như: Tháp Mường Luân, tháp Chiềng Sơ (Điện Biên Đông), Tháp Mường Và (huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La) Chùa Chiền Viện (Chùa Vặt Hồng- huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn la) Tháp Mường Bám (huyện Thuận Châu- Tỉnh Sơn La) là một kiến trúc Chùa, Tháp Phật Giáo đặc sắc thuộc phái Tiểu thừa.

          Cùng với việc nghiên cứu tháp cổ Mường Bám, chúng ta có khả năng khảo sát, nghiên cứu và khai quật khảo cổ học thời sơ sử tại khu vực này

9. Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích

          Trải qua dòng chảy của thời gian, do ảnh hưởng của khí hậu và sự tác động của con người tháp Mường Bám đã và đang xuống cấp nghiêm trọng. Hiện nay di tích không còn nguyên vẹn, ngọn tháp đã bị mất, hệ thống hoa văn còn lại rất ít. Trong số 4 Tháp con, hiện nay 3 Tháp bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại 1 tháp con. Tháp còn lại bị nghiêng, nứt nẻ, vữa trát và hoa văn bị bong tróc nhiều. Trang trí ở các tầng Tháp bị bong , tróc.

          Gần khu vực Tháp, một số người dân lấn chiếm đất làm nhà ở, làm  vườn gần Tháp

          Từ năm 1960, tại Tháp không diễn ra các hoạt động tế, lễ như trước đây. Do vậy Tháp và những hạng mục công trình liên quan không được bảo vệ, đang trong tình trạng xuống cấp và hoang phế.

          Hiện nay chính quyền các cấp của huyện Thuận Châu đã quan tâm chỉ đạo và phổ biến, vận động nhân dân địa phương bảo vệ di tích, tránh sự xâm hại.

          UBND tỉnh Sơn La đã ban hành kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị lịch sử- văn hoá, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2008-2015 và định hướng đến năm 2020 (KH số 64/KH-UBND, ngày 01/9/2008)

10. Phương hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích

          Di tích tháp Mường Bám là một công trình kiến trúc nghệ thuật, độc đáo là tài sản văn hoá quý giá của dân tộc, với giá trị văn hoá cao, nên tháp cần được khôi phục, trùng tu, để di tích này mãi là vật chứng để chúng ta và thế hệ mai sau được nghiên cứu, được chiêm ngưỡng về một nền nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của dân tộc.

          Tháp Mường Bám là một công trình kiến trúc nghệ thuật hiếm có, còn lại tại Sơn La, và cùng với hệ thống Chùa và Tháp ở Tây Bắc, góp phần phong phú thêm vào kho tàng di sản văn hoá dân tộc, giúp các nhà khoa học nghiên cứu về tháp cổ tại Việt Nam

11. Kết luận

          – Khảo sát, nghiên cứu lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích

          – Xây dựng bản đồ khoanh vùng qui hoạch và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho di tích.

          – Hoàn thiện hồ sơ khoa học di tích

          – Báo cáo và trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích Quốc Gia.

          – Xây dựng dự án tôn tạo, khai thác, phát huy giá trị của di tích.

Sưu tầm

Thác Dải yếm

Tên di sản

Thác Dải yếm

Địa chỉ

Vặt, Xã Mường Sang , Mộc Châu

Vùng

Ý nghĩa lịch sử

1. Tên gọi:

       Tên thường dùng: Thác Dải Yếm

       Tên địa phương: Thác Ta Lét: Trươn tuột, trơn trượt

                                       Thác nước bản Vặt

      Các dòng tạo nên thác dải yếm:

           * Suối Vặt được tạo bởi dòng nước từ khe Bó Co Lắm và Bó Tá Cháu

          – Dòng suối thứ nhất chảy từ Bó Co Lắm (Mó nước này ngày xưa có cây đa to gọi là co lắm)

          – Dòng suối thứ hai chảy từ  khe Bó Tá Cháu (Nước mó sạch dùng để lấy nước về chùa Vặt Hồng tắm cho tượng phật)

          – Thác còn được tạo bởi từ dòng suối Huổi Lùn (Suối chảy qua bản Lùn)

2. Địa điểm và đường đi đến di tích

           Di tích danh lam thắng cảnh Thác Dải Yếm thuộc bản Vặt xã Mường Sang, tỉnh Sơn La. Du khách đến thác Dải Yếm đi theo hai hướng: Từ trung tâm huyện lỵ hướng Hà Nội Sơn La theo quốc lộ 6 lên Thành phố Sơn La 3km tới ngã ba Lóng Sập rẽ trái đi đường 43 khoảng 5km là tới di tích.

          Từ trung tâm huyện lỵ Mộc Châu hướng Sơn La Hà Nội khoảng 1km tới ngã ba đường đi Lóng Sập theo hướng tay phải đường 43 đi khoảng 5km là tới di tích. Đường đến di tích rất thuận lợi du khách có thể đi bằng mọi phương tiện xe máy, xe ô tô. Hai bên đường cảnh quan thiên nhiên và khu dân cư rất đẹp, đường trải nhựa uốn theo các sườn đồi với mầu xanh của ngô, lúa. Đặc biệt đây là con đường biên giới Việt Lào với 33km là sang nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm của di tích

          Mộc Châu với tên gọi thân thương chính thức có từ thời nhà Lê (Thế kỷ XV) là cửa ngõ của tỉnh Sơn La, thuộc địa hình núi cao của miền Tây Bắc. Cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình là 1.150-1.300m so với mặt nước biển, trong đó núi đá vôi của Mộc châu có độ cao trung bình từ 1.050m. Mộc Châu là miền đất có địa hình catxtơ, hệ thống núi đá vôi trùng điệp ôm lấy những quả đồi lớn nhỏ như những chiếc bát úp khổng lồ nằm gối kề nhau chạy theo hướng tây bắc đông nam, xen lẫn các vùng cao nguyên rộng lớn là những vùng bình nguyên,lòng chảo, những khe suối sâu, vực thẳm làm cho địa hình Mộc Châu trở nên đa dạng. Với kiểu hình núi đá vôi tạo cho Mộc Châu có nhiều hệ thống hang động, thác nước cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ và ở độ cao như vậy nên Mộc Châu là vùng có khí hậu mát mẻ rất tốt cho sức khoẻ của con người, động, thực vật. Mộc Châu là vùng đất có lịch sử lâu đời, có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống: Thái, Mông, Mường, Kinh, nuôi cải thiện đời sống. có nền văn hoá mang đậm bản sắc tộc người. Trong suốt tiến trình lịch sử các dân tộc Mộc Châu đã có những đóng góp to lớn trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, Ngày nay truyền thống đó đã và đang được phát huy trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Trong văn hoá tinh thần, nghệ thuật dân gian được thể hiện qua các câu chuyện, những làn điệu dân ca, những tác phẩm nghệ thuật,điệu xoè, câu ca dao tục ngữ, các lễ hội xên bản, xên mường, lễ hội cầu mưa… Mỗi dân tộc đều có kho tàng văn học nghệ thuật riêng chứa đựng những tâm tư tình cảm nhận thức của họ về tự nhiên, xã hội và con người cũng như tài năng sáng tạo văn hoá trong lịch sử tộc người.

          Mộc Châu xưa, tên tiếng thái gọi là Mường Sang. Người thái ở Mộc Châu là một nhóm thái di cư từ Lào sang khoảng thế kỷ XIV. Có một câu chuyện kể về sự thiên di của người thái từ Lào sang đất Mường Sang” …Ngày xưa vua đất Viên Chăn sinh được người con trai đặt tên là Pa Nha Nhọt Chom Cằm. Chàng trai khi lớn lên thường ngày ra sông Nậm Khoong tắm (Sông Mê Công) tình cờ một hôm chàng lấy được một hòn đất quý có nhiều mầu sắc đêm về làm vật bảo bối. Khi chàng trai trưởng thành Pa Nhọt Chom Cằm được phép của vua cha cho đi tìm đất mới để lập bản, lập mường, cùng đi với chàng có nhiều tướng lĩnh binh sỹ và dân bản. trước khi lên đường vua cha trao cho đoàn quân của Pa Nhọt Chom Cằm 800 cây mác đồng đỏ với hàng chục con voi chiến và nhiều lương thực, thực phẩm. Chàng mang theo hòn đá quý trong người, chàng bắt đầu khởi quân từ vùng đất Viên chăn đi về Mường Thanh (Điện Biên) xuống Mường Húa (Tuần Giáo) lên Mường So (Phong Thổ), Mường Là (Thuộc Vân Nam Trung Quốc).Chàng lại tiếp tục kéo quân về mạn sông Hồng đến mường Mả, Mường Sát Cam Đường (Lai Châu) đoàn người lại xuôi về Mường Cúc, Mường Át

           (Phú Thọ) điểm cuối cùng đoàn dừng chân ở Hoà Bình. Với danh nghĩa đoàn sứ giả của vua Lào, đoàn Pa Nhọt Chom Cằm đi đến đâu cũng được nhân dân ủng hộ và đón tiếp rất chu đáo. Không ngờ hòn đá quý của Pha Nha Nhọt Chom Cằm mang theo cứ ngày một lớn, khi đến đất Mường Mùn(Mai Châu- Hoà Bình) thì hòn đá đó đã phải dùng tới Tám người nghiêng mới có thể tiết tục đem đi được. Khi tới đất Phiêng Luông (Mộc Châu), hòn đá bỗng thốt lên” Chỗ đất này tốt” (Trong tiếng thái tốt là đi) Pha Nha Nhọt Chom Cằm)đặt tên cho vùng đất đó là Chiềng Đi. Đoàn lại tiếp tục khiêng hòn đá qua núi Kèm Cọ, đến một bãi bằng  đá lại nói” Cho tôi xuống đây” tiếng thái gọi là (Khỏi Chi Lống) chiều theo ý đá Pha Nha Nhọt Chom Cằm bền đặt hòn đá ở đó và đặt tên hòn đá là Chi Lống (Chi Lống được phiên âm thành Chờ Lồng) hòn đá được mang tên là “sửa hin lái” (với ý nghía là hồn mường có màu sặc sỡ). Từ đấy đất Chi Lống làm nơi trú ngụ của “hồn Mường” (Mường Sang).

          Qua nghiên cứu, khảo sát thực tế tại di tích và theo lời kể của nhân dân địa phương, thác Dải Yếm được gắn  với hai câu chuyện truyền thuyết.

          – Câu chuyện tình hữu nghị Việt – Lào ở vùng biên giới Tây bắc

          –  Câu chuyện Quá trình kiến tạo địa chất của vùng đất Mộc Châu

          Thác dải Yếm nằm tại trung tâm bản Vặt, xã Mường Sang, Mộc Châu, tỉnh Sơn La, trên trục đường Quốc Lộ 43 đi cửa khẩu Lóng Sập sang nước CHDCND Lào.

          Câu chuyện thứ nhất; “Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa không ai còn nhớ ngày, nhớ năm, vùng đất này còn vô cùng hoang sơ, núi cao sừng sững, rừng bạt ngàn cây cối, muông thú đầy rừng

          Chủ nhân vùng đất này là một vài xóm nhỏ của dân tộc Thái, Xá. Nguồn sinh sống của họ chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm nhặt quả trong rừng, bắt cua, cá dưới suối. Cuộc sống tuy vất vả nhưng họ sống với nhau đầm ấm và hạnh phúc. Ngày đó bên nước bạn Lào có quân giặc từ phương bắc tràn xuống, cướp của, bắn giết dân lành tại các bản mường, hai nước sẵn có truyền thống hữu nghị từ lâu đời, thanh niên trai tráng ở bản Vặt hăng hái tòng quân sang giúp Lào đánh giặc. Ở bản Vặt lúc đó có một đôi trai giá rất yêu nhau, nhưng chàng trai phải tạm biệt cô gái lên đường cùng các chàng trai khác trong bản đi đánh giặc. Ngày chia tay, cô gái tiễn người yêu tới núi Pú Hạng Méo (nơi bé như đuôi con Mèo trên đường quốc lộ 43), tới đây cô gái nói với chàng trai: “Anh đi đánh giặc xong sẽ trở về với em, chúng ta sẽ chờ và đón nhau tại đỉnh của dòng thác này, nếu anh hi sinh em sẽ biến thành con ếch ở ruộng Nai Sa nhìn về phía anh đi. Chàng trai dặn cô gái anh đi đánh giặc xong sẽ trở về đỉnh dòng thác này, chúng mình sẽ cưới nhau. Họ chia tay nhau chỉ có dòng thác chứng kiến cùng với tiếng thác nước rì rầm hoà cùng tiếng xào xạc của rừng cây, tiếng chim hót líu lo như tiếp nối lời ca tiếng đàn của sơn nữ xinh đẹp thuỷ chung. Chàng trai đi đánh giặc cô gái trở về bản sớm hôm tần tảo ruộng vườn. Nhiều mùa trăng đã trôi qua, các chàng trai ở bản lần lượt trở về duy chỉ có chàng trai là người yêu cô gái không về, thời gian trôi đi hết ngày này qua ngày khác mà người chẳng thấy về, chiều nào cũng vậy khi xong việc nhà hoàng hôn buôn xuống cô gái lại ra thác nước nơi hai người hẹn hò nên duyên vợ chồng xoã tóc xuống dòng nước tắm ngóng chờ người yêu với niềm hy vọng. Nhân dân trong bản rất yêu thương và lo sức khoẻ cho cô, nhiều chàng trai trong bản đem lòng yêu thương muốn lấy cô về làm vợ, nhưng cô cương quyết từ chối chờ đợi chàng. Một hôm trời đổ cơn giông, gió ào ào thổi, mây đen kéo đến phủ kín cả bầu trời, trời đất tối đen như mực sống chớp ầm ầm, trời bắt đầu mưa to, nước dâng ngập cả một vùng. Ngày hôm sau nước rút, dân bản đi tìm cô gái nhưng không thấy chỉ tìm được một dải lụa mà cô gái thường dùng hàng ngày vương trên cành cây trên đỉnh thác ,xem kỹ dải lụa có thêu tên của cô gái và chàng trai. Xúc động trước tình yêu và lòng chung thuỷ của cô gái đối với chàng trai. Từ đó bà con trong bản đặt tên cho thác là thác Dải yếm. Nhất là khi đứng từ Pú Hạng Méo nơi cô gái và chàng trai chia tay nhìn về dòng thác ta sẽ thấy dòng thác tựa như một dải lụa mềm mại, mái tóc dài óng mượt thơ mộng được gắn lên mối tình thuỷ chung bi tráng.

          * Câu chuyện thứ hai: “Thưở ấy đã lâu lắm rồi, vùng đất này còn vô cùng hoang sơ, rừng bạt ngàn cây cối, muông thú đầy rừng. dân tộc ở đây là bản làng nhỏ bé gồm dân tộc thái, xá.. nguồn sống chính của họ là hái lượm, một ngày đẹp trời mọi người trong xóm nhỏ toả vào các cánh rừng để kiếm sống.trong đó có chàng trai và cô gái ở hai gia đình rất thân nhau, cả hai đang ở độ tuổi trăng tròn cũng vào rừng để kiếm sống như mọi người khác. Cảnh vật nơi đây thật là tuyệt đẹp dưới chân họ là cánh rừng và dòng suối trong vắt , trên đầu họ là rừng xanh và mây trắng lững lờ trôi, hai bên bờ suối từng đàn bướm với đủ màu sắc rực rỡ bay lượn dập dờn, lá cây lay động khi làn gió thổi qua, tất cả những thứ đó hoài quyện vào nhau tạo cho nơi đây một cảnh đẹp thiên thần.

          Bất chợt gió ào ào thổi, mây đen kéo đến phủ kín cả bầu trời đất trời tối đen như mực báo hiệu một trận đại hồng thuỷ sắp đổ xuống nơi này. Quả nhiên, bầu trời đen kịt như bị xé rách bởi tiếng sấm ầm ầm và chớp lóe lên nhằng nhịt. Một thác nước từ trên trời bỗng đổ ập xuống nơi này, mưa rất to, trời đất vẫn tối sầm, sét đánh ngang dọc bầu trời mưa vẫn tiếp tục đổ xuống ngày một to hơn, cả vùng đất này như biển nước mênh mông. Chàng trai và cô gái cũng như các người dân khác đang kiếm ăn trong rừng thấy trời mưa  họ tìm một nơi trú ẩn cho mình, không ngờ trời mưa quá to, nước mỗi ngày càng dâng cao hơn nữa mọi người ai cũng đều lo sợ. Đột nhiên mặt đất rùng rùng chuyển động như trời long đất lở đất bỗng toác ra, sụp xuống thành một khe rất sâu kéo dọc theo sườn núi cả một vùng bị nước dâng đầy như biển cả tạo thành một dòng nước chảy xiết hung dữ.

          Chàng trai và cô gái cũng chọn chung số phận như những người khác trong vùng bị gập nước, tất cả đều bị cuốn trôi theo dòng nước xiết đang chảy về phía miệng vực, mọi người đều tuyệt vọng, họ kêu cứu và cầu mong có một ai đó đến cứu họ thoát chết. Càng gần đến miệng vực sâu, nước chảy càng mạnh hơn, miệng vực há ra như muốn nuốt chửng mọi thứ, chàng trai và cô gái cũng cùng chung số phận như những người khác nhưng may mắn hơn họ bị nước cuốn dạt sang một dòng chảy khác, khi bị nước cuốn đến khu vực bản Vặt họ bám vào một cành cây cổ thụ cả hai người cùng trèo lên cây nhìn và thương xót cho mọi người đang bị nước cuốn trôi về phía vực thẳm, dưới chân thác là một đám dây và cây rừng dày đặc giăng ngang như một chiếc võng để họ bám vào không bị nước cuốn sâu xuống dòng suối hung dữ đang ào ào chảy xiết.Trời bắt đầu tạnh, nước rút dần, chàng trai và cô gái xuống mặt đất đi về phía khe đất nứt để xem có còn ai sống xót không, họ vừa đi vừa gọi hy vọng còn ai đó cũng may mắn như họ, văng vẳng gần thác có tiếng người kêu cứu cả hai vội vã chạy đến, họ thấy một nhóm người đang bám víu lơ lửng trong đám dây và cây rừng gần đáy thác nước. Trên đỉnh thác nước vẫn chảy xiết. đá và đất lở xuống tạo thành đáy thác rất sâu và, độ dốc gần như thẳng đứng nên mọi người không có cách gì bám để trèo lên được. Chàng trai và cô gái tìm dây rừng để thả xuống cứu họ lên nhưng tất  cả đều bị cuốn trôi, chàng trai đang tìm cách cứu mọi người. Chợt nghe cô gái kêu lên” Tìm được cách rồi”, cô thả mái tóc dài đen mượt của mình xuống thác để cứu dân bản, nhưng những sợi tóc của cô không đủ dài để cứu được họ cô phải lấy thêm dải thắt lưng nối vào. Nhờ có những sợi tóc và dải thắt lưng bện vào nhau thành một dây dài thả xuống thác và mọi người đã được cứu lên đỉnh thác.

          Chính nơi có mặt đất nứt ra tạo thành một vực sâu rộng như ngày nay đã trở thành một thác nước rất đẹp. Để cảm ơn cô gái và chàng trai dân bản cùng nhau tát thành cho họ thành đôi vợ chồng, họ sống với nhau rất hạnh phúc, sinh con đẻ cái và thành lập nên bản, tụ họp con cháu sống ở nơi cây to mà họ may mắn bám vào không bị nước cuốn trôi từ đó họ đặt tên bản là Vặt, tên  bản Vặt xuất hiện từ đó, nghĩa là nơi người đã cứu dân trong vùng khỏi một tai hoạ lớn. Từ đó thác nước mang tên là thác nước bản Vặt, thác nàng, thác Dải yếm”

4. Loại hình

Di tích danh lam thắng cảnh

5. Sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng liên quan đến di tích

           Bản Vặt, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn la, nơi đây  còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể đặc sắc của dân tộc nuôi dưỡng và bảo tồn cho đến ngày nay.

           Lễ hội “Xên bản” bản Vặt, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thường được tổ chức vào ngày 29/8 đến ngày 1/9 hàng năm. Nhằm tôn vinh các hoạt động văn hoá dân gian, những nét đẹp văn hoá tiêu biểu nhất, những sản phẩm văn hoá có giá trị, những làn điệu dân ca, điệu múa dân gian và các loại hình nghệ thuật, hoạt động văn hoá cộng đồng, những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc đồng thời khẳng định những nét đẹp văn hoá từ bao đời của nhân dân các dân tộc Mộc Châu. Qua hoạt động lễ hội “Xên bản” du lịch Thác Dải Yếm xã Mường Sang góp phần tích cực vào việc sưu tầm, khai thác bảo tồn giới thiệu những giá trị văn hoá lịch sử của các dân tộc, là dịp nhân dân các dân tộc trong huyện gặp gỡ giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, thông qua đó tuyên truyền tới mọi người dân phát huy nội lực năng động, sáng tạo đoàn kết một lòng tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng huyện Mộc Châu phát triển bền vững. Yêu cầu của lễ hoọi phải nghiêm túc trang trọng không phô trương tạo ra nét đẹp văn hoá, không khí viu tươi phấn khởi, đoàn kết tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của nhà nước. Tổ chức lễ hội phải thu hút được khách trung Ương, khách địa phương và các khách du lịch, gây ấn tượng tốt với nhân dân các dân tộc trong tỉnh, huyện, xã và đặc biệt giữ gìn lễ nghi cơ bản của lễ hội. Đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội và vệ vệ sinh môi trường. Các đối tượng tham gia là nghệ nhân, diễn viên quần chúng của xã, không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác, thành phần, chức vụ. Nhân vật thầy mo- chủ lễ phải chọn người có hiểu biết và có uy tín trong vùng, thành phần tham dự gồm các đại biểu và nhân dân.

          * Công tác chuẩn bị: Phân công cho các thành viên trong ban tổ chức, chuẩn bị làm ba sàn tre, hai cột lắc mương; các món ẩm thực: Cá, thịt nướng…10 đôi đũa, 10 cái chén, hai bát nước lã, 01 bất gạo, 01 địa muối, 02 ép xôi, 02 kiếm, vải thổ cẩm, vòng bạc và một kiệu mô hình nhà sàn đồng thời mời nghệ nhân biết làm các loại dụng cụ dân tộc, nhạc cụ, dệt thổ cẩm, đan lát… để trình diễn trong các  ngày của lễ hội và phục vụ khách tham quan du lịch.

          *Lễ hội gồm hai phần chính:

           + Phần lễ: Lễ rước bắt đầu từ 8h sáng, địa điểm xuất phát từ di tích chùa Vặt Hồng tới thác Dải Yếm. đi đầu là hai thanh niên cầm kiếm được buộc chỉ xanh, chỉ đỏ mặc quần áo đen dân tộc thái, lưng thắt khăn thổ cẩm mầu đỏ, đầu quấn khăn đen vừa đi vừa múa kiếm,tiếp theo là hai thanh niên cầm cờ tổ quốc và cờ hội, bốn thanh niên khiêng kiệu mô hình nhà sàn có bọc giấy xanh, đỏ , tím. vàng. Ông mo, bà Một mặc áo dài dân tộc Thái  vừa đi, vừa cúng ra địa điểm tổ chức lễ hội “xên Phi bản phi mương”(Cúng ma bản, ma mường). Phần lễ phải chọn được một cô gái xinh đẹp, khoẻ mạnh nhất trong bản, hai tay nâng bộ áo của thầy mo mầu đỏ, đội trống chiêng vừa đi vừa đánh trống theo nhạc xoè. Đặc biệt trong lễ hội phải có một con trâu đen khoảng 3-4 năm tuổi béo khoẻ được tắm rửa sạch sẽ, sừng bọc giấy bạc óng ánh, trán và mông dán giấy trắng cắt hình hoa ban. đi sau là các ông bà già trong bản mặc trang phục dân tộc và các tổ chức đoàn thể, đàn ông đeo kiếm hoặc dao, phụ nữ cầm cờ , hoa…

           Khi lễ chuẩn bi xong ông Mo bắt đầu cúng, Nội dung lời cúng như sau:

Cầu cho bản Mường yên vui

Trong năm mưa thuận gió hoà

Mùa màng bội thu

Lành ở, dữ đi, nhà nhà yên vui

Người già, con trẻ được mạnh khoẻ

Thanh niên ngoan hiền, chăm chỉ làm ăn

Nhân dân được ấm no, hạnh phúc

Đất nước được giầu mạnh vững bền

          Khi cúng xong ông mo ra hiệu cho hai thanh niên chuẩn bị làm thủ tục hoá kiếp cho con trâu, sau khi hai thanh niên trở về trên tay cầm chậu tiết trâu đặt lên sàn. Ông Mo lấy chiếc áo đỏ nộp lại cho ông chủ mường và lấy sợi chỉ đen buộc vào cổ tay ông chủ mường và nói: “ Khắp sại bán nhá lương, khắp sại mương nhá sau có nghĩa: “Chúc ông giữ Mường đừng để mường úa, nắm dây mường đừng để mường tàn, khoẻ như nai đỏ, chắc như voi đang độ”. Cuối cùng ông Mo, bà Một, ông chủ mường cùng uống rượi vui vẻ hát, múa xoè”

        + Phần hội:

        Tại lễ hội diễn ra nhiều các hình thức: Thi nấu món ăn dân tộc, chơi ném còn, bắn nỏ, văn nghệ…. Sau khi thi xong ông Mo mời các đại biểu vào mân để thưởng thức các món ăn như vậy gọi là ăn lấy may, lấy lộc. Tiếp theo đó ông Mo ra hiệu nổi trống chiêng và mời mọi người cùng khách du lịch tham dự vòng xoè, cứ như vậy phần hội kéo dài cho đến hết ngày.

6. Khảo tả di tích

          Bản Vặt xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La có lịch sử từ  lâu đời, theo sử sách ghi lại thì Mường Sang trước kia được hình thành thời Lê sơ. Tháng 5/1998 Mường Sang được tách thành 2 xã Đông Sang và Mường Sang. Xã Mường Sang hiện nay có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống: Thái, Kinh, Mông, Mường chia làm 10 bản và hai tiểu khu, dân số 1.343 người, chủ yếu đồng bào sản xuất bằng nông nghiệp. Là một xã nằm ở phía Bắc thị trấn Mộc Châu, phía đông giáp xã Đông Sang, phía nam giáp xã Lóng Sập, phía Tây giáp xã Chiềng Khừa, phía Bắc giáp xã Chiềng Hặc. Khí hậu mùa hè mát mẻ, mùa Đông giá lạnh, địa hình xã Mường Sang nằm giữa thung lũng đá vôi, có diện tích 9.074ha.

           Dưới chế độ thực dân phong kiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, chủ yếu phụ thuộc vào nương rẫy, săn bắn, hái lượm, kinh tế thiếu thốn quanh năm. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ nhân dân các dân tộc Mường Sang đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Từ khi đất nước được độc lập, kinh tế, văn hoá xã hội ngày càng được phát triển đặc biệt là trong những năm thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, đồng bào đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, sử dụng các giống lúa mới, cuộc sống của người dân trong bản được đổi mới trong mọi lĩnh vực. Con người và mảnh đất nơi đây luôn giữ được ý thức đoàn kết dân tộc, tự hào truyền thống lịch sử của cha ông. Thế hệ các cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Mường sang hôm nay và mai sau mãi mãi xứng đáng với truyền thống yêu nước, bất khuất tự lực tự cường của các thế hệ đi trước đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng mảnh đất Mường Sang ngày càng vững mạnh, bảo vệ vùng biên giới an toàn, hữu nghị. Những tài nguyên, thiên nhiên phong phú nơi đây sẽ thành khu du lịch nổi tiếng của xã Mường sang nói riêng và huyện  Mộc Châu nói chung. Theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, thời Lê Sơ Mường Sang là tên gọi cổ xưa nhất của vùng đất Mộc Châu, Mường Sang còn gọi là “Mường Mok” (tức là Mường có nhiều mây mù phủ quanh năm), có giả thiết cho rằng, Mường Sang là tên phát âm chệch của Mường Khang nghĩa là Mường gang thép, sau này Mường Khang chuyển âm thành Mường Sang. Bên cạnh thác Dải Yếm còn có Chùa Vạt Hồng cách khoảng 600m, thác Dải Yếm là thác tự nhiên, có rất nhiều cảnh quan kỳ thú, là món quà quí giá do thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này.

          Thác Dải Yếm được hình thành từ dòng Suối Vặt. Điểm khởi nguồn của dòng suối này là từ hai khe nước bó Tá Cháu và bó Co Lằm ở bản Vặt cách thác 600m về phía tay trái của thác cùng nằm trên trụ con đường quốc lộ 43. Khi chảy đến khu “Na Sai” (vườn trồng hoa lan hiện nay) được chia thành hai thác cách nhau khoảng 200m. Cả hai dòng chảy đều bị chặn lại bởi một bức tường đá vôi, nước dâng lên và tràn về bờ thấp hơn đổ xuống từng bậc đá, tung bọt trắng xoá, tạo thành những bức tranh sinh động, huyền ảo mang vẻ đẹp thật thuần khiết, hoang sơ giữa khung cảnh yên vắng của núi rừng.

            Muốn xuống thác tham quan du khách phải đi theo hai con đường:

           Đường thứ nhất do doanh nghiệp tư nhân Phiêng Luông xây dựng năm 2010. Từ mặt đường xuống khoảng 14m là con dốc nhỏ có độ nghiêng là 300 qua cầu bê tông dài 30m, rộng 1,3m bắc qua dòng suối Vặt, qua cầu bê tông là một khu đất rộng tương đối bằng phẳng, du khác vẫn theo con đường đó khoảng 50m rẽ trái là tới thác thứ nhất. Đường xuống thác hình chữ chi với 23 bậc xi măng độ dốc 500 hai bên đường mầu xanh của nương ngô và cây ăn quả, các loại cây thân leo mọc rậm rạp um tùm xanh ngút ngàn quanh năm. Nơi đây là vùng đất khiêm nhường lặng lẽ, ẩn chứa bao điều kỳ diệu của các cảnh sắc thiên nhiên, phong cảnh núi rừng tự nhiên được kết hợp với sức sáng tạo và bàn tay khéo léo của con người cùng địa hình núi đồi trùng điệp như những bức tranh sắp đặt bố cục hài hoà thơ mộng, chìm trong làn mây của hơi nước bay lên bồng bềnh như một thành phố cổ tích khiến cho du khách cảm thấy thoả mái dễ chịu khi đến thăm nơi này.

            Đường thứ hai: Do dự án tập đoàn Đông Dương xây dựng tháng 8/2011, đường xuống thác nước dài 285m gồm 113 bậc xi măng uốn khúc theo sát sườn đồi được bố trí một cách hợp lý.

Thác nước thứ nhất:

            Đứng trên đỉnh thác du khách phóng tầm mắt ra xa ta có thể thấy được cả một vùng núi rừng bao la và cảm nhận sự hùng vĩ của mảnh đất nơi đây. Một dòng thác lớn dội nước xuống vực sâu từ độ cao khoảng 70m, kết hợp với nhiều dòng thác nhỏ tạo thành màn sương trắng bao quanh chân núi đá. Dưới chân thác là cả một khoảng rộng mênh mông nước và vô vàn những mô đá nhấp nhô dọc theo bờ suối còn có rất nhiều những tảng đá bằng phẳng, những thảm thực vật xanh mướt, những cây cổ thụ to hơn một người ôm và các cây dây leo mọc đan xen nhau thành từng tầng hoà quyện vào dòng chảy  trông như một bức tranh hoành tráng. Thác được chia làm 3 tầng.

           Tầng thứ nhất nước chảy từ trên đỉnh thác xuống một thung lũng gần như thẳng đứng có độ sâu khoảng 40m, độ rộng khoảng 70m, độ cao khoảng 50m. Đặc biệt ở tầng này nước đổ thẳng từ trên cao xuống tạo thành hồ chứa nước rất  sâu, trên đỉnh thác là những cây to cổ thụ với những bộ rễ rủ xuống hoà quyện vào làn nước chảy tung bọt trắng xoá.

          Tầng thứ hai cách đó chừng 5m, sâu khoảng 20m, rộng khoảng 50m, mùa mưa lượng nước nhiều chảy tràn qua những tảng đá đất lâu năm tạo thành một bờ đi từ bên này sang  bên kia dài khoảng 30m. Đứng từ dưới chân thác nhìn lên lấy đường xuống thác làm chuẩn thác có 7 dòng chảy, mỗi dòng chảy cách nhau không xa ở độ cao gần như thẳng đứng. Từ trên đỉnh thác những dòng chảy của nước đổ xuống va đập vào những gờ đá nhô ra của vách đá tạo nên những giọt nước bắn tung toé, khi khúc xạ của ánh nắng mặt trời chiếu qua các lùm cây, thảm thực vật khiến cho du khách liên tưởng đến nơi đây giống như những dải cầu vồng trải dài dưới dòng suối Sập.

           Tầng thứ ba cách tầng hai khoảng 7m du khách đứng trên bờ nhìn theo dòng suối được tận mắt nhìn thấy hàng trăm hòn đá lớn nhỏ có hình dáng khác nhau nằm dưới dòng suối hoặc nép mình dưới những lùm cây chảy róc rách suốt ngày đêm. Nơi đây du khách có thể soi mình xuống dòng suối mát lạnh đón những giọt nước li ti từ trên lưng chừng thác bay xuống. Thảm thực vật ở khu vực thác này rất phong phú, mật độ các cây leo dài đặc hơn và có rất nhiều các cây to cổ thụ buông rễ xuống tận mặt nước, hai bên bờ suối là những nương ngô, cây ăn quả của đồng bào canh tác quanh năm. Từ thung lũng tầng ba kéo thoải xuống dòng suối Sập dài khoảng 70m, rộng khoảng 40m là các dòng chảy nhỏ với các cung bậc cao thấp khác nhau, độ chảy khác nhau, kiểu dáng khác nhau giữa một thảm thực vật đa dạng, những bậc thang đá tự nhiên, nước chảy giữa những vòm cây xanh tựa như giàn hoa quanh năm che chở cho dòng thác êm đềm, dịu ngọt.

             Diện tích toàn bộ thác một khoảng 4.000m2.Vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, toàn bộ đập tràn đỉnh thác được nước bao phủ, tràn qua và tạo thành một dải nước trắng xoá chảy tập trung xuống hồ nước. Do lưu lượng nước đầy, độ cao lớn nên các dòng chảy rất mạnh tràn qua nền đá vôi dưới chân thác nước và tạo ra những dòng thác to, nhỏ kiểu dáng cao thấp khác nhau hàng chảy dài theo dòng suối.

Thác nước thứ hai  

            Từ ngã ba đường xuống thác một, rẽ về tay phải gần 50m là thác nước hai có diện tích khoảng 3.000m2

          Đỉnh thác nước hai cách thác nước một gần 200m lui về phía tay phải đường xuống thác nước hai, thác này cũng được tạo bởi dòng chảy suối Vặt bị chặn lại ở cuối thác một, dâng lên và chảy qua một khe núi đá vôi tạo thành thác nước hai khoảng 80m.

           Đường xuống thác nước thứ hai có độ dốc lớn rất khó đi, du khách phải đứng từ dưới chân thác nhìn lên. Phía ngoài cùng của đỉnh thác vào mùa nước cạn nhìn lên chỉ có duy nhất một dòng chảy tạo thành thác có độ cao khoảng 40m. Về mùa mưa do lưu lượng nước lớn nước chảy xuống khoảng 20m thì có một gờ đá đất vôi nổi lên ở giữa, nước đổ tràn qua đây tạo thành hai dòng chảy.

          Ngay dưới chân thác hai là một hồ nước có diện tích khoảng 49m (nhỏ hơn hồ nước chân thác một). Hồ nước này cũng được tạo ra bởi dòng chảy của nước ở độ cao 40m. Qua thời gian nền đá vôi chân thác bị bào mòn xuống tạo nên hồ nước này

          Vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 .Nước chảy tràn trên toàn bộ mặt nền đá vôi trên đỉnh núi xuống chân vách đá tạo nên một dòng thác hùng vĩ. Từ chân thác nước hai (hồ nước) là một mặt nền đá vôi khá bằng phẳng có diện tích gần 30m2, từ hồ nước này kéo dài xuống lòng suối Bó Sập là 100m.

         So với thác nước một, thảm thực vật và các cây cổ thụ ở khu vực thác nước hai phong phú hơn, mật độ dày đặc hơn. Từ chân hồ nước thác hai kéo thoải xuống chân suối Bó Sập các dòng thác nước nhỏ với các cung bậc cao thấp khác nhau, kiểu dáng, độ chảy khác nhau giữa một thảm thực vật đa dạng gần như nguyên sinh làm cho cảnh quan nơi đây có vẻ hoang sơ, u tịch hơn.

        Về mùa mưa lưu lượng nước nhiều phần ngoài cùng đỉnh thác hai từ phía dưới lên còn một thác phụ rất đẹp. Phần thác phụ này bị ngăn cách với thác hai bởi một gờ đá nổi cao hơn ở mép trên cùng của núi tạo nên một dòng thác nhỏ mỏng manh phía ngoài cùng, dưới chân thác nước này có một hồ nước nhỏ khoảng 25m khá đẹp. Hồ nước này cũng được tạo ra như hai hồ nước ở thác một và hai.

Điểm chung của thác.

         Đều bắt nguồn từ sự ứ tràn nước của suối Vặt cả 2 mùa mưa và khô đều có thác nước chảy, thảm thực vật cả hai khu thác này còn tương đối nguyên vẹn. Đường xuống dốc và nguy hiểm; trong toàn bộ khu vực thác nước đọng rất nhiều thân cây, mùn đất trôi từ trên xuống, đi lại trong khu vực thác rất khó khăn?

7. Các hiện vật trong di tích

          Hiện nay di tích còn nguyên sơ

8. Giá trị lịch sử, khoa học thẩm mỹ của di tích.

          Di tích danh lam thắng cảnh thác Dải yếm là một thắng cảnh đẹp của hai dòng suối Bó co lắm và Bó Ta Cháu nằm trong khu vực thiên nhiên, ẩn chứa bao điều kỳ diệu gắn với câu chuyện tình của đôi trai gái và đặc biệt là mỗi quan hệ Việt-Lào ở vùng biên giới phía Tây Bắc, Thác Dải Yếm nằm trong quần thể các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh  của khu du lịch Quốc gia Mộc Châu như: Đồn Mộc Ly. Hang Dơi, Trung đoàn 52 Tây Tiến…Đến đây du khách còn được đắm mình trong lễ hội xên bản, xên mường, được thưởng thức các điệu xoè, lời ca, tiếng hát truyền thống làm say đắm lòng người của các dân tộc Mộc Châu nói riêng và nhân dân các dân tộc Sơn La nói chung.

9. Thực Trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích

          Di tích danh lam thắng cảnh thác Dải Yếm là một cảnh quan sinh thái  hiện đang giữ được các yếu tố tự nhiên rừng, núi, dòng chảy tạo nên thác nước. Đây là một tài sản quốc gia có giá trị về mặt lịch sử, kết hợp với các giá trị văn hoá truyền thống của nhân dân các dân tộc ở bản Vặt và xã Mường Sang đã và đang được lưu giữ, bảo tồn và phát huy phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là loại hình kinh tế du lịch.

10. Các biện pháp bảo vệ và sử dụng di tích

          – Điều tra, khảo sát, lập hồ sơ khoa học, lập bản đồ quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ cấp giấy chứng nhận QSDĐ trình UBND tỉnh xếp hạng.

           – Phòng văn hoá phối hợp với cấp uỷ chính quyền xã Mường Sang xây dựng phương án bảo vệ nguyên trạng hạn chế mức thấp nhất những tác động sấu ảnh hưởng tới di tích. UBND xã Mường Sang cần phải quan tâm bảo vệ nguyên trạng các yếu tố cấu thành di tích gốc. Hạn chế thấp nhất các hành vi xâm hại, lấn chiếm làm ảnh hưởng đến di tích.

          – Sau khi được xếp hạng, danh thắng thác nước bản Vặt và những bản sắc văn hoá tộc người sẽ là những điều kiện rất cơ bản phục vụ cho phát triển kinh tế.Góp phần vào việc xây dựng và phát triển một nền văn hoá Việt nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết TƯ V khoá VIII đã đề ra.

11. Kết Luận

           Là một di tích danh lam thắng cảnh đẹp ở Mộc Châu, nơi đây gắn với dự án khu du lịch sinh thái và cũng là nơi phát triển mục tiêu kinh tế, văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc Mường Sang nói riêng và Mộc Châu nói chung. Vì vậy UBND xã Mường Sang kính đề nghị Sở VHTT&DL xem xét, lập hồ sơ khoa học trình UBND tỉnh xếp hạng năm 2011.

Sưu tầm

Nhà Tù Sơn La

Tên di sản:

Nhà Tù Sơn La

Địa điểm:

Tổ 8, Phường Tô Hiệu, Thành phố Sơn La

Vùng:

Quốc lộ 6

Ý nghĩa lịch sử:

I. Tên gọi: Nhà tù Sơn La

          Tên thường gọi: Nhà tù Sơn La

          Tỉnh Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng chung sống từ lâu đời. Trước những năm 1908, Sơn La nằm trong địa phận tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ đặt tại bản Pá giang bên bờ Sông đà. Đầu năm 1908 chính quyền Thực dân cho dời tỉnh lỵ về thị trấn Sơn La, chúng lấy tên của thị trấn nhỏ này đặt tên cho tỉnh. Ngay từ khi chuyển tỉnh lỵ về Sơn La, chính quyền thực dân đã tính đến việc xây dựng một trại giam ở đây, song song với việc xây dựng tòa sứ Nhà giám binh, trại lính và các công sở khác.

          Tháng 10 – 1907, Sở kiến trúc thuộc Nha công chính xứ Bắc kỳ đã hoàn chỉnh thiết kế mặt bằng đầu tiên của Nhà tù Sơn La. Đầu năm 1908, dưới sự đốc thúc của tên công sứ Giăng Mông Pê Ra, Nhà tù Sơn La được gấp rút xây dựng và hoàn thành vào cuối năm 1908, với diện tích 500 m. Mang tính chất Nhà tù hàng tỉnh và đặt tên là Nhà tù Sơn La.

          Nhà tù Sơn La được đổi tên thành Ngục Sơn La. Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy đấu tranh chống lại áp bức bóc lột của Thực dân phong kiến. Những cuộc đấu tranh đã làm cho kẻ địch bị bất ngờ, chúng lồng lên tìm đủ mọi cách để đàn áp phong trào cách mạng của quần chúng, mặt khác chúng gấp rút xây thêm hoặc mở rộng các nhà tù, đặc biệt chúng đã chú trọng đến Nhà tù Sơn La. Lợi dụng vị trí, địa thế của Sơn La chúng tiến hành mở rộng Nhà tù Sơn La nên gấp 3 lần so với ban đầu (Từ 500mlên 1500m). Từ đây Nhà tù Sơn La đã thay đổi hẳn về tính chất giam giữ tù nhân, nó đã trở thành một trung tâm đặc biệt để đày ải, giam giữ và tiêu hao dần lực lượng cách mạng Việt Nam.

          Bởi vậy từ năm 1930 Nhà tù Sơn La được đổi tên thành Ngục Sơn La (từ PriSon thành Penten cier).

II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ DI TÍCH – ĐƯỜNG ĐI ĐẾN

          Nhà tù Sơn La nằm trên đỉnh đồi Khau cả, một khu đất cao trung tâm thị xã Sơn La, nơi án ngữ các ngả đường đi Hà Nội – Lai Châu – Tạ Bú. Từ đỉnh đồi Khau cả có thể nhìn bao quát toàn cảnh Thị xã Sơn La, và đặc biệt khu đồi này nằm độc lập và gần như tách biệt với vùng dân cư bên ngoài, vì vậy nó rất thuận lợi cho âm mưu của thực dân pháp xây dựng trung tâm giam cầm những người yêu nước Việt Nam tại đây.

          Nhà tù Sơn La phía Đông giáp trụ sở làm việc của UBND tỉnh Sơn La cách khoảng 100m. Phía Tây nhìn về khu đồi khí tượng có con đường quốc lộ 6 đi thẳng Lai Châu cách con đường này khoảng 200m, phía Nam nhìn ra trung tâm thị xã cách đường Tô Hiệu khoảng 400m, phía Bắc nhìn về phía trụ sở của tỉnh Đảng bộ Sơn La, cách đường Quốc lộ 6 (đi xuôi về Hà Nội) khoảng 500m.

          Nhìn chung Thực dân Pháp chọn địa điểm đồi Khau cả để xây dựng Nhà tù Sơn La để thực hiện âm mưu và tội ác của chúng rất có hiệu quả. Bởi vì với địa điểm nằm trên đồi cao chúng có thể dễ dàng bao quát được mọi hoạt động xung quanh nhà tù và có thể cách ly được những tù nhân chính trị với nhân dân các dân tộc bản địa. Đặc biệt chúng lợi dụng khí hậu khắc nghiệt và công việc khổ sai cộng với chế độ tù đày hà khắc nhằm tiêu hao dần sinh lực của tù nhân.

          * ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH:

          Đến tham quan, nghiên cứu hay tìm hiểu về di tích Nhà tù Sơn La, quý khách có thể đi lại rất thuận lợi bằng nhiều phương tiện cơ giới hoặc đi bộ với 2 cửa ngõ vào di tích.

          – Cửa ngõ thứ nhất: Nếu đi theo trục đường quốc lộ 6 (Hướng từ Hà Nội lên) đi qua cầu 308, đến ngã 3 Gốc phượng (tên thường dùng tại địa phương) ngã 3 này – một hướng đi thẳng lên Lai Châu, hướng rẽ tay trái là đường vào trụ sở tỉnh Đảng bộ Sơn La, hướng tay phải ngược lên đồi khoảng 400m là trụ sở UBND Tỉnh Sơn La, đi tiếp đến 100m là đến di tích Nhà tù Sơn La. Đây là con đường chính và thuận tiện mà các đoàn khách thường đến tham quan.

          – Cửa ngõ thứ hai: Cũng bắt đầu từ trục đường 6 hướng đi Lai Châu về trụ sở Tạ Bú ra (gọi là ngã 3 két nước). Nếu từ ngã 3 này lên đến di tích khoảng 400m.

III. NỘI DUNG SỰ KIỆN CỦA DI TÍCH

          Trong quá trình xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam, Thực Dân Pháp đã phải đương đầu với sức phản kháng quyết liệt của dân tộc Việt Nam anh hùng. Biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, bất chấp sức mạnh vật chất và sự tàn bạo của kẻ thù xâm lược, đã đứng dậy đấu tranh với nhiều hình thức, thực hiện mục tiêu đánh đuổi giặc ngoại xâm cứu nước. Đối phó với một dân tộc như vậy, Thực Dân Pháp đã sử dụng nhiều thủ đoạn dã man chính sách thâm độc như: Chia rẽ, đầu độc, ngu dân, đàn áp và khủng bố. Chúng đã dựng lên hàng loạt nhà tù, trong đó có Nhà tù Sơn La nhằm hủy diệt lực lượng lãnh đạo cách mạng và phong trào quần chúng và thủ tiêu ý trí đấu tranh của nhân dân.

          Nhà tù Sơn La cùng với nhà tù Côn Đảo, Buôn Mê Thuật và Hỏa Lò nổi bật lên những chứng tích về sự tàn bạo của chế độ Thực dân. Cũng chính tại nơi bị giam cầm, đày ải ấy. Những người yêu nước và Cộng Sản Việt Nam đã anh dũng đấu tranh, làm thất bại nhiều mưu đồ đen tối và xảo quyệt, man rợ của kẻ thù.

          Nằm trong hệ thống các nhà tù, Nhà ngục, trại giam … Nhà tù Sơn La do Thực Dân Pháp xây dựng ở nước ta vào những năm đầu của thế kỷ 20. Khởi thủy nó chỉ là Nhà tù hàng tỉnh mang tên “Prison de Vạn Bú” với chức năng là giam giữu từ thường phạm.

          Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân ra vùng lên đấu tranh chống Đế quốc phong kiến thì Nhà tù Sơn La thay đổi hẳn tính chất, nên được đổi tên là “peni tencier de Son La”. Như vậy đối tượng giam giữ không chỉ là tù thường phạm mà cả tù chính trị thuộc các Đảng phái, trong đó chủ yếu là tù Cộng Sản. Như vậy Nhà tù Sơn La trở thành trung tâm giam cầm đày ải những người yêu nước Việt Nam.

          Nếu như năm 1930 chỉ có 24 người tù Cộng Sản tư nhà giam Hỏa Lò bị “phát vãng” lên Sơn La thì tháng 12 năm 1944 con số đó đã lên tới 1007 tù nhân. Sơn La là một tỉnh miền núi cách xa Hà Nội. Chỉ có một con đường độc đạo là con đường số 41 (nay là đường Quốc lộ 6) trình độ dân trí còn thấp và thủa đó là một trong những vùng nổi tiếng “Nước độc rừng thiêng” “Nước Sơn La ma Vạn Bú” hoặc “Ai lên Hát lót Chiềng Lề, khi đi thì dễ khi về thì không”. Không thể chém giết cùng một lúc hàng loạt những người dân Việt Nam yêu nước, nên Thực Dân Pháp đã thực hiện âm mưu hết sức thâm độc là lợi dụng khí hậu khắc nghiệt, kết hợp với chế độ ăn uống kham khổ, chế độ lao tù hà khắc, lao động khổ sai cực nhọc…  Để giết dần, giết mòn cả thể xác lẫn tinh thần của người tù chính trị, điều đó đã thể hiện đầy đủ trong các các báo cáo của Công Sứ Sơn La Xanh – Pu – Lốp gửi Thống sứ Bắc kỳ. “chỉ cần một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm …”.

          Tàn nhẫn hơn chúng dùng chế độ vật chất để mua chuộc biến những người lạc hậu thành hàng rào bao vây nhà tù, ngăn cách những người tù chính trị với đông đảo quần chúng nhân dân và lợi dụng sự khác nhau về phong tục tập quán, về ngôn ngữ để ngăn cản tuyên truyền cách mạng của các tù chính trị.

          Trong điều kiện sống lao động, bệnh tật và âm mưu của kẻ thù như vậy. Những người tù chính trị Sơn La phải thực sự đối đầu với những thử thách lớn. Nếu không có nghị lực ý chí và sáng tạo thì rất dễ bị sa ngã, đầu hàng an phận thủ thường. Qua các nguồn tài liệu còn lưu giữ được cho đến ngày nay, qua lời kể của các nhân chứng, chúng ta biết được một phần nào những người tù Cộng sản ngay từ lúc đặt chân tới Nhà tù Sơn La đã ý thức được những khó khăn, nguy hiểm và sớm tìm được cho mình những phương thức hoạt động thích hợp để sống, để tiếp xúc với dân, gây dựng cơ sở cách mạng, để đấu tranh trực tiếp với kẻ thù, rèn luyện và chuẩn bị chu đáo hành trang cần thiết khi có điều kiện trở về với Đảng với tổ chức. Có lẽ chưa có một nhà tù nào trong hệ thống nhà tù của Thực Dân Pháp lập ra nước ta lại có một mô hình tổ chức chặt chẽ, có hiệu quả của những người Đảng cộng sản như ở Nhà tù Sơn La, và cũng ở nơi đây đã đào tạo cho cách mạng, cho Đảng nhiều cán bộ lãnh đạo xuất sắc như vậy: đ/c Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Đặng Việt Châu, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Trân… và rất nhiều đồng chí giữ các cương vị trọng trách trong các cơ quan Đảng và Nhà nước ta đều thử thách, rèn luyện và trưởng thành từ Nhà ngục Sơn La.

          * CÁC CUỘC ĐẤU TRANH TRONG NHÀ TÙ SƠN LA:

          Kẻ thù tưởng rằng hễ bắt được tù Cộng Sản là có thể tiêu diệt được tinh thần và ý chí chiến đấu của họ, sẽ tiêu diệt được Đảng ta và dập tắt được phong trào của nhân dân ta. Nhưng chúng đã lầm ý chí kiên cường của những người tù cộng sản được rèn đúc mài sáng trên sự tàn bạo của chúng. Người Đảng viên Cộng sản không chịu chết mòn trong gông cùm của kẻ thù, mà họ đấu tranh bảo tồn lực lượng, bảo vệ khí tiết cách mạng của Đảng, tổ chức cuộc sống, học tập lý luận và tuyên truyền cách mạng, giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù.

          Trong giai đoạn năm 1930 – 1932, các đoàn tù chính trị gồm 50 người bị kết án khổ sai 5 năm đày lên Sơn La, tháng 2 năm 1933, đoàn tù thứ 4 gồm 210 người, đây là đoàn tù đông nhất bị đày lên Sơn La. Sau khi Thực Dân Pháp đàn áp dã man phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Trong đoàn tù này có các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Đỗ Ngọc Du, Khuất Duy Tiến, Trường Chinh, Lê Duẩn mà Thực dân pháp đã xếp vào “những phần tử nguy hiểm”.

          Tháng 10/1933 nhiều cuộc đấu tranh liên tiếp của những người tù Cộng sản ở Nhà tù Sơn La nhung tiêu biểu nhất vẫn là cuộc đấu tranh “Chống tên toàn quyền Đông Dương PátSkiê”. Cuộc đấu tranh này anh em tù chính trị đã tổ chức đưa ra bản yêu sách gồm các vấn đề như sau:

          – Phải thực hiện chế độ tù chính trị

          – Phải chuyển tù về đồng bằng

          – Phải cải thiện chế độ ăn uống

          – Phải cấp thuốc cho người ốm

          – Không được đánh đập và bắt tù nhân làm việc nặng nhọc.

          Anh em tù chính trị còn tố cáo chế độ tù đày dã man làm cho nhiều người chết, những người tù còn lại đều bị ốm yếu, bệnh tật. Thái độ cương quyết của tù nhân đã buộc PátSkiê phải nhận  bản yêu sách và hứa sẽ nghiên cứu và giải quyết.

          Tháng 10 – 1934 đến tháng 5 – 1935. Thực Dân Pháp tiếp tục đày các đoàn tù lên Sơn La, trong những đoàn tù này có các đ/c Nguyễn Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Phạm Quang Lịch… Có nhiều đ/c bị đày lên Sơn La lần thứ hai như đ/c Trường Chinh, Bùi Vũ Trụ, Hoàng Đình Dong.

          Để lãnh đạo anh em đoàn kết đấu tranh với chế độ tù đày dã man, các đ/c Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh đã bí mật lãnh đạo những Đảng viên Cộng sản từ nhà tù Hỏa lò bị Thực Dân Pháp đày lên Nhà tù Sơn La họp lại, nhận định tình hình ở Ngục tù Sơn La và đề ra chủ trương thành lập “Hội đồng thống nhất” do đ/c Trường Chinh phụ trách, dưới sự chỉ đạo “Hội đồng thống nhất” được chia thành các ban: Ban trật tự trong – Ban trật tự ngoài – Ban hợp tác xã – Ban Nhà bếp – Tổ nhà thuốc. Hội đồng chỉ định người phụ trách, các ban các tổ hoạt động theo quyền hạn trách nhiệm do “Hội đồng thống nhất” đã quy định và được tự chủ theo hoạt động của mình. Những người tù cộng sản chủ trương hoạt động công khai, không ra sách báo như ở Hỏa Lò. Những cán bộ được bố trí trong những vị trí công tác mà bọn thống trị có thể chấp nhận được, chúng không để ý theo dõi, mọi người đều tự giác tuân theo những nguyên tắc do Hội đồng nêu ra mà lấy ý kiến rộng rãi trong anh em. Việc thành lập “Hội đồng thống nhất” là thắng lợi to lớn của tù chính trị về mặt tổ chức và chỉ đạo đấu tranh hợp pháp. Lúc này những người tù Cộng sản ở Ngục Sơn La đều vui vẻ phấn khởi giúp đỡ nhau tổ chức sản xuất, tăng gia gây quỹ, cải thiện đời sống, tổ chứ học tệp lý luận, văn hóa … Tìm cách để giác ngộ binh lính trong nhà tù, vận động giáo dục quần chúng, đặc biệt là quần chúng thanh niên, học sinh, công chức.

          Thắng lợi của các đồng chí tù chính trị từ những năm 1935 – 1936 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về mặt tổ chức đấu tranh, tổ chức đời sống.

          * CUỘC ĐẤU TRANH TUYỆT THỰC CHỐNG TÊN GIÁM NGỤC GA-BÔ-RI:

          Khi chiến tranh thế giới lần II bùng nổ, Đế quốc Pháp lại tăng cường khủng bố tù nhân hơn nữa. Đặc biệt là chúng tăng cường khổ sai nặng nhọc đối với tù nhân đi phá đá, đốn củi, đốn gỗ ở chốn rừng sâu, đào hầm, xây nhà tù, khẩu phần ăn gạo lẫn trấu, thịt ôi, cá ươn, mắm thối, nằm sàn xi măng, gây nhiều bệnh tật hiểm nghèo… gây lên nhiều chết chóc đau thương. Trước những tình hình đó chi bộ nhà tù Sơn La phát động cuộc đấu tranh chống chế độ tù đày hà khắc của nhà tù, đòi bảo đảm quyền lợi hợp pháp của tù chính trị, mà chính quyền thực dân đã thừa nhận. Nguyên nhân bùng nổ cuộc đấu tranh là GA-BÔ-RI đã đánh đập tù nhân một cách dã man, tự ý cấm người tù xuống suối tắm giặt, không cho họ tự quản bếp ăn, bớt xén trắng trợn khẩu phần ăn của tù nhân, chúng còn không cho tù nhân nói chuyện với binh lính.

          Cuộc đấu tranh nổ vào tháng 6 năm 1940. Hôm đó trước mặt viên giám ngục, đại diện tù chính trị tuyên bố: Bắt đầu từ hôm nay chúng tôi tuyệt thực để phản đối xếp GA-BÔ-RI đối xử tàn tệ, đánh đập tra tấn, chửi mắng, quát nạt tù chính trị. Tuy nhiên chúng tôi không bỏ công việc, mọi người về trại đến chiều vẫn đi làm bình thường. Cuộc đấu tranh kéo dài 4 ngày sau đó không thấy lay chuyển, tên Cút-xô quyết định nhân nhượng một bước để chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn hơn. Trước mặt thượng cấp tên GA-BÔ-RI xin hứa “sẽ chấp hành mệnh lệnh của ngài Công sứ”. Thắng lợi của cuộc đấu tranh này rất quan trọng, giải quyết được một số quyền lợi mà cũng từ đấy thái độ của binh lính có chuyển biến hơn, biết nể trọng tù nhân. Từ thắng lợi của các cuộc đấu tranh vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng trở thành tất yếu các đồng chí cũng bắt đầu khẳng định: “Chúng ta không chỉ biến nhà tù Đế Quốc thành trường học cách mạng, mà còn là trường đời, là nơi rèn luyện đấu tranh giai cấp, là học viện của chủ nghĩa Mác – lê nin”.

          * CUỘC ĐẤU TRANH KIÊN QUYẾT VÀ KHÔN KHÉO CHỐNG CÚT XÔ:

          Với sự âm mưu thâm độc của tên cáo già Cút – Xô chúng nhượng bộ tù chính trị trong cuộc đấu tranh trước, nhưng trong thâm tâm chúng chuẩn bị một kế hoạch tấn công quyết liệt hơn để uy hiếp tinh thần những người tù chính trị. Bề ngoài chúng dùng những lời lẽ ngọt ngào, những cử chỉ thân mật, nhưng bên trong chúng ngầm ra lệnh cho bọn tay chân của chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố tù chính trị mạnh hơn nữa.

          Lúc này tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển. Vì vậy bọn thống trị ở các nhà tù khác, chúng tăng cường khủng bố, ngược đãi tù chính trị. Riêng ở nhà Ngục Sơn La số tù Cộng sản lên tới một trăm đồng chí. Để phục vụ cho âm mưu đó, chúng mở rộng và xây dựng nhà tù mới, chúng bắt tù chính trị phải làm những công việc khổ sai nặng nhọc, bóc lột nhân công rẻ mạt, đày đọa anh em làm mồi cho ốm đau chết chóc. Tên Cút – Xô cáo già ra lệnh cho cai và lính bắt tù phải “Đổ mồ hôi nhiều hơn nữa”. Các công việc lao động khổ sai trong nhà tù đều phải tăng thêm chuýen. Hắn ra lệnh cho chân tay của chúng theo dõi mọi hoạt động của những người “Bướng bỉnh” báo cho hắn để hắn bắt giam buồng tối.

          Đó là nguyên nhân nổ ra cuộc đấu tranh lớn nhất trong nhà tù Sơn La vào ngày 13 – 5 – 1941. Cuộc đấu tranh này do chi ủy quyết định. Ban lãnh đạo cuộc đấu tranh được thành lập gồm các đồng chí có nhiều kinh nghiệm, khỏe mạnh, can đảm, sẵn sàng hy sinh, đứng ra làm hàng rào che chở cho những đồng chí già yếu, cán bộ lãnh đạo như: đ/c Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Tô Hiệu. Vì bệnh tật ho lao nặng, đ/c Tô Hiệu bị giam cách ly ở xà lim tam giác chéo cũng cương quyết xin tham gia đấu tranh, ban lãnh đạo thấy sức khỏe của đồng chí làm liên lạc và điều tra tình hình địch, thông báo cho anh em, tuyên truyền binh lính tranh thủ sự ủng hộ của họ. Đồng chí Tô Hiệu góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh này.

          Hôm đó ngày 13 tháng 5 năm 1941, buổi trưa đi làm về cơm đã dọn ra sân, anh em không ăn, một đại biểu của ta đứng lên tuyên bố với giám ngục: “Chúng tôi tuyệt thực và không đi làm để phản đối ông Công sứ đánh đập, bắt giam hầm Cát xô mấy người xe nước một cách vô lý”. Sau khi tuyên bố, anh em tập trung về trại lướn cũ, ban lãnh đạo sắp xếp chỗ nằm cho từng người: Khỏe nằm ngoài, yếu nằm trong. Ban lãnh đạo dặn dò các đồng chí giữ vững tinh thần sẵn sàng đối phó nếu chúng dở trò khủng bố. Nhưng tên cáo già Cút xô nham hiểm và quỷ quyệt ra lệnh bắt giam mấy người xe nước xuống hầm, hắn biết thế nào cũng có sự phản ứng nên hắn đã chuẩn bị khủng bố dã man mà ta không lường hết được. Được tin tù chính trị đấu tranh tuyệt thực, Cút – Xô tỏ ra bình tĩnh, hắn không hò la, đánh đập, chửi bới mà lập tức ra lệnh cho bọn lính ống sẵn sàng, lưỡi lê tuốt trần. Mở cửa xông thằng vào trại, chúng dồn mọi người xuống hầm tối. Lúc đầu anh em cứ tưởng chúng làm như vậy để tiện cho việc kiểm tra lục soát, không ngờ Cút – xô định chôn sống hàng trăm con người. Sau đó Cút – xô ra lệnh “Không để lọt một hạt cơm, giọt nước vào hầm ngầm. Nếu ai trái lệnh sẽ bị bắn ngay!”. Hắn còn hăm dọa sẽ lấy gạch xây lấp cửa hầm.

          Sự việc xảy ra hoàn toàn khác với dự kiến của ta, ta chỉ tuyên bố nhịn ăn, nhưng kẻ địch bắt nhịn uống và giam chặt dưới hầm sâu thiếu không khí với số lượng tù nhân là 156 người. Căn hầm chật hẹp, ẩm thấp, chỉ có 6 lỗ cửa nhỏ trông lên mặt đất, không khí vốn đã thiếu lại thêm hơi người càng ngột ngạt, khó thở. Hầm ẩm ướt lạnh lẽo, nay biến thành một lò nung nóng bức, nhiều đồng chí phải cởi hết quần áo, muốn đứng áp vào tường đá cố hút lấy một chút hơi mát. Do không được ăn uống, trong hầm tối thiếu ánh sáng và không khí nên sức khỏe anh em giảm sút rất nhiều. Ở ngoài nhân dân phố Chiềng Lề rất căm phẫn khi biết được tin Cút xô giam hàng trăm tù chính trị dưới hầm tối. Với tình cảm đó, bà con người gửi phên đường, ống nước vào ủng hộ cho anh em tù chính trị. Đối với anh em trong tù vì có sự cổ vũ lớn lao, tiếp thêm sức mạnh để anh em tiếp tục đấu tranh.

          Cuộc đấu tranh kéo dài 13 ngày đêm của những người tù chính trị phạm ở Sơn La đã kết thúc.Qua nhiều ngày bị giam cầm trong hầm tối, khi bước chân lên mặt đất, hầu hết các đồng chí bị ù tai, hoa mắt bước đi lảo đảo, chập choạng, có đồng chí ngã gục không đi tiếp được nữa. Sự ác độc tàn bạo của kẻ thì càng nung nấu thêm lòng căm thù quân cướp nước, càng quyết tâm đấu tranh chống lại chủ nghĩa Thực Dân đến cùng của những người Cộng sản. Từ đây đã mở ra thời kỳ mới, hoạt động sôi nổi, thắng lợi liên tiếp trên mặt trận chính trị – kinh tế – văn hóa – quân sự – tuyên truyền giác ngộ binh lính, quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng đầu tiên ở nước ta.

          * SỰ RA ĐỜI CỦA CHI BỘ NHÀ TÙ SƠN LA:

          Từ năm 1930 – 1939 đã có nhiều đoàn tù bị Thực Dân Pháp đày lên Nhà tù Sơn La, nhưng chưa thành lập được tổ chức Đảng bởi vì chưa có kinh nghiệm lãnh đạo, chưa gây được cảm tình với binh lính, gây dựng một cơ sở cách mạng bên ngoài. Vì vậy đến năm 1939 đã có nhiều đoàn tù bị đày lên Sơn La trong đó có các đồng chí nhiều kinh nghiệm hoạt động cách mạng có các đồng chí đã bị bắt và bị giam cầm ở các nhà tù khác như Côn Đảo, Hỏa Lò. Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách lúc này trong nhà tù Sơn La phải có một chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo và tổ chức đấu tranh. Cuối tháng 12 – 1939, các đồng chí Đảng viên trong nhà tù bí mật họp và lập ra chi bộ lâm thời gồm 10 đồng chí, đ/c Nguyễn Lương Bằng được cử làm bí thư.

          – Tháng 2 năm 1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chính thức đ/c Trần Huy Liệu được bầu làm bí thư.

          – Tháng 5 – 1940 đại hội chi bộ được tổ chức thảo luận, nội dung các chủ trương công tác và bầu ra Ban chi ủy, đ/c Tô Hiệu được bầu làm Bí thư, chi bộ đề ra những chủ trương đường lối hoạt động cụ thể:

          1- Lãnh đạo mọi hoạt động trong tù đề ra phương hướng đấu tranh.

          2- Gíao dục Đảng viên nâng cao lập trường quan điểm, ý chí chiến đấu, nhân sinh quan cộng sản, đạo đức phẩm chất cách mạng.

          3- Rèn luyện và đào tạo cán bộ

          4- Xây dựng cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù

          5- Bắt liên lạc với tổ chức đảng bên ngoài nhà tù.

          Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, đại hội đại biểu tù nhân được tổ chức. Các tù nhân thảo luận sôi nổi, thông qua quy chế chung về tổ chức nhà tù. Đại hội quyết định thành lập ủy ban nhà tù (Còn gọi là ủy ban hàng trại) đặt dưới sự lãnh đạo của chi bộ nhà tù. Đó là cơ quan cao nhất điều hành hoạt động của tù nhân giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ quyền hạn để tổ chức và thực hiện các nghị quyết của đại hội, chỉ đạo các ban cơ sở, đồng thời làm chức năng đối ngoại. Các ban cơ sở gồm có:

          Ban trật tự trong, ban trật tự ngoài, Ban kinh tế, Ban cứu tế, Ban tuyên truyền, Ban huấn luyện, Phòng y tế, Ban khánh tiết, Ban Văn hóa, Ban dân vận. Riêng ban binh vận hoạt động bí mật trực thuộc chi ủy. Từ năm 1942 tập thể tù chính ở tù Sơn La đã hoàn thành về cơ cấu tổ chức của mình. Chức năng của mỗi ban hoạt động khác nhau nhưng cùng chung một mục đích đó là: Chống lại chế độ tù đày hà khắc của Thực Dân Pháp đối với tù chính trị, mặt khác anh em tù chính trị tổ chức học tập, cải thiện đời sống vật chất tinh thần, gây cơ sở cách mạng từ binh lính, công chức trong và ngoài nhà tù, bắt liên lạc với Trung ương Đảng.

          * CHI BỘ NHÀ TÙ SƠN LA VỚI PHONG TRÀO CÁCH MẠNG Ở SƠN LA

          Tình hình ở bên ngoài nhà tù ngày càng thuận lợi cho việc chi bộ nhà tù tích cực tuyên truyền, gây dựng phong trào cách mạng bởi lúc này nhân dân ta càng căm ghét bọn cướp nước và bọn quan lại, cường hào. Trước những tình hình đó càng thôi thúc anh em tích cực mọi hoạt động trong nhà tù. Vì vậy trong thời gian này các đồng chí tù chính trị ở Nhà tù Sơn La cần phải tìm bắt liên lạc với tổ chức Đảng ở Trung ương.

          Giữa lúc nóng lòng chờ đợi liên lạc của Trung ương thì một số các đồng chí mới bị bắt, bị đày tiếp lên nhà tù Sơn La. Trong các đoàn tù đó có các đồng chí như: Trần Đăng Ninh, đồng chí đã mang theo chủ trương mới của Trung ương (Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 của Trung ương tháng 5 – 1941). Từ đó đã giúp chi bộ có đường lối hoạt động. Đến tháng 11 năm 1943 Trung ương cử đồng chí Bình Phương lên Sơn La bắt liên lạc với chi bộ nhà tù Sơn La.

          Sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng, chi bộ đã cử đồng chí Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn thay mặt chi bộ tiếp nhận chỉ thị của Trung ương Đảng đó là động lực thúc đẩy các hoạt động của chi bộ trong nhà tù như việc tổ chức học tập, rèn luyện quân sự, xây dựng cơ sở cách mạng ở bên trong nhà tù và bên ngoài nhà tù, tuyên truyền giác ngộ binh lính. Sẵn sàng chờ đội mọi thời cơ thuận lợi tiến tới giải phóng tù nhân, đồng thời mở ra hướng đi mới cho phong trào cách mạng ở Sơn La.

          Đầu năm 1943, chi bộ Nhà tù Sơn La đã chính thức thành lập được 2 cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù đầu tiên ở Sơn La. Tổ chức thứ nhất ở Mường La gồm các đ/c Lò Văn Gía, Cầm Văn Thinh, Lù Văn Phui, Lò Xuân tổ này do anh Cầm Văn Thinh trực tiếp làm bí thư.

          Tổ thứ hai thị xã gồm: Chu Văn Thịnh, Tòng Văn Lanh, tổ này trực tiếp anh Chu Văn Thịnh làm bí thư.

          Hai tổ này được mang tên “Đoàn thanh niên Thái cứu quốc”. Trực tiếp dưới sự lãnh đạo của chi bộ Nhà tù Sơn La. Có nhiệm vụ tiếp nhận chủ trương đường lối của Đảng, giác ngộ quần chúng, tập hợp các đoàn viên thanh niên có ý thức tham gia cách mạng, lôi kéo những người có cảm tình với ta.

          Tháng 8 năm 1943, chi bộ Nhà tù Sơn La tổ chức cuộc vượt ngục đầu tiên ở Sơn La. Cuộc vượt ngục này đòi hỏi chi bộ phải chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và phải bí mật, rút kinh nghiệm cuộc vượt ngục của hai đ/c Tường và đ/c Lý không có tổ chức nên đã xảy ra thảm họa vô cùng to lớn cho chi bộ Nhà tù Sơn La, ảnh hưởng tới tư tưởng của anh em tù chính trị.

          Sau khi nghiên cứu chi bộ nhận định nhân tố thắng lợi trong cuộc vượt ngục này là phải có người dẫn đường. Chi bộ chọn anh Lò Văn Gía một đoàn viên thanh niên Thái cứu quốc thông minh, dũng cảm, nhanh nhẹn, có tinh thần yêu nước và nhiệt tình cách mạng. Thành phần vượt ngục gồm có 4 đồng chí do chi bộ Nhà tù chọn đó là đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Lưu Đức Hiểu, Nguyễn Văn Trân. Do có sự chuẩn bị chu đáo nên cuộc vượt ngục của 4 đồng chí đã thành công tốt đẹp. Anh Lò Văn Gía sau khi trở lại Sơn La đã bị Thực Dân Pháp bắt và thủ tiêu.

          Đây là cuộc vượt ngục thành công duy nhất từ trước đến giờ ở Nhà ngục Sơn La, nó đánh dấu một bước ngoặt lịch sử kịp thời cổ vũ anh em, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

          * CHI BỘ NHÀ TÙ SƠN LA VỚI CÁCH MẠNG THÁNG 8 -1945 Ở SƠN LA

          Để gấp rút chuẩn bị lực lượng giành chính quyền ở các địa phương Xứ ủy Bắc kỳ đã cử đồng chí Lê Trung Toản trở lại Sơn La để cùng các đồng chí ở địa phương tổ chức lại các phong trào.

          Hội người Thái cứu quốc ở Sơn La là một hình thức tổ chức quần chúng, là một hình thức tổ chức mặt trận Việt Minh, người lãnh đạo trực tiếp là Đảng viên Chu Văn Thịnh. Tổ chức này có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, vạch trần tội ác của Nhật, kêu gọi đồng bào đoàn kết.

          Ngày 26 – 8 -1945 dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự Tỉnh bộ Việt Minh do đồng chí Chu Văn Thịnh làm chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi.

          Có thể nói chi bộ Nhà tù Sơn La là vườn ươm hạt giống cách mạng, nơi tỏa sáng của Đảng tới nhân dân các dân tộc Sơn La, từ cơ sở cách mạng và từ những cốt cán trung kiên được chi bộ Nhà tù Sơn La lớn mạnh sau này.

IV. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA DI TÍCH

          Nhà tù Sơn La một chứng tích về âm mưu thâm độc và tàn ác dã man của Thực Dân Pháp, đối với những người Cộng sản và những người yêu nước Việt Nam. Nó đã trở thành một trung tâm giam cầm và đày ải, tiêu hao dần lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong 15 năm từ 1930 đến 1945, hàng nghìn những người yêu nước Việt Nam đã bị giam cầm tại nơi đây. Nhưng vượt lên trên gôm cùm và tội ác của Thực Dân Pháp, những cộng sản Việt Nam ở đây đã biến Nhà tù Đế Quốc thành trường học cách mạng, biến những bức tường đá lạnh lẽo của Nhà tù Đế Quốc thành những viên gạch hồng ấm tình đồng chí của những bạn tù, biến bóng đêm đen tối của nhà tù Đế Quốc thành những tia sáng cách mạng tỏa ra khắp vùng núi rừng Tây Bắc. Chính vì vậy Nhà tù Sơn La đã trở thành chiếc nôi của cách mạng Việt Nam, đã đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ các chiến sỹ trung kiên cho Đảng, cho dân tộc, đội ngũ những người Cộng sản kiên cường lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập cho dân tộc.

          Di tích nhà tù Sơn La được Đảng và Nhà nước ra đặc biệt quan tâm, được xếp hạng quốc gia tù năm 1962. Và đã trở thành một trung tâm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam và ngày nay di tích cách mạng Nhà tù Sơn La trở thành một điểm thu hút nhiều đối tượng khác trong nước và nước ngoài, đặc biệt là trường học cách mạng cho thế hệ con em các dân tộc Sơn La.

Sưu tầm

Ngã ba Cò Nòi

Tên di sản:

Ngã ba Cò Nòi.

Địa điểm:

Xã Cò nòi, Mai Sơn

Vùng:

Quốc lộ 6

Ý nghĩa lịch sử:

1. Tên gọi

a) Tên thường gọi: Ngã ba Cò Nòi.

b) Tên gọi khác: Đài tưởng niệm liệt sỹ Thanh niên xung phong Cò Nòi.

– Lịch sử tên gọi: Nằm ở vị trí Ngã ba đường quốc lộ 6 và đường số 13 cách thị xã Sơn La 45km (Đi xuôi về Hà Nội).

             Trong chiến dịch Điện Biên Phủ Ngã ba Cò Nòi là điểm nút giao thông quan trọng nhất để các mũi tiến quân của quân và dân ta tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Địa điểm này đã trở thành “Điểm đỏ” để Thực Dân Pháp bắn phá ác liệt nhất, nhằm chặn đứng và phá tan huyết mạch giao thông của quân và dân ta. Hàng ngày tại đây chúng đã ném khoảng 69 tấn bom/ ngày để cày xới phá huỷ, những dưới làn mưa bom của địch, các lực lượng vũ trang, Thanh niên xung phong trong cả nước đã dũng cảm bám trụ, ngày đêm vẫn đảm bảo thông đường mạch máu giao thông vẫn chảy đều trên tuyến lửa; Nơi đây nhiều chiến sũ và Thanh niên xung phong đã hy sinh; Trong quá trình phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ tại Ngã ba Cò Nòi 100 chiến sỹ và Thanh niên xung phong đã hy sinh.

Ngã ba Cò Nòi được nhắc đến như Ngã ba Đồng Lộc, đó là những địa danh lịch sử trong cuộc trường trinh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Di tích có tên gọi chính là Ngã ba Cò Nòi.

          + Với ý nghĩa đặc biệt của di tích, với tấm lòng và tình cảm ngưỡng mộ, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của thế hệ người Việt Nam, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của tỉnh Sơn La, của TW Đoàn TNCSHCM. Địa điểm Ngã ba Cò Nòi được quy hoạch với diện tích trên 20.000 m2 để xây dựng Đài tưởng niệm Thanh niên xung phong với quy mô hoành tráng, đây là một công trình Văn hoá – Lịch sử của cả nước nói chung và Sơn La nói riêng, là trung tâm giáo dục truyền thống Cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam. Bởi vậy hiện nay di tích có tên gọi khác là: Đài tưởng niệm thanh niên xung phong Ngã ba Cò Nòi.

2. Địa điểm phân bố di tích, đường đi đến

– Di tích thuộc xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Di tích cách thị trấn Mai Sơn 10km, đường đi về Hà Nội và sang bến phà Tạ Khoa (Bắc Yên).

– Từ địa điểm di tích đi các ngả đường sau:

1. Đường đi huyện Phù Yên (Sơn La) và tỉnh Yên Bái (Đường số 13 (113A)).

2. Đường đi xuôi về Hà Nội. Đường 41 (Quốc lộ ngày nay).

3. Đường ngược lên thị xã Sơn La – Điện Biên (Quốc lộ 6).

– Di tích nằm trên trục quốc lộ 6. Địa điểm di tích thuận lợi cho du khách đến tham quan bằng mọi phương tiện.

3. Sự kiện, nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích

             Sau khi bị thất bại trên chiến trường Tây Bắc và Thượng Lào trong chiến dịch Tây Bắc vào cuối năm 1953 nhằm toan tính và chuẩn bị những điều kiện quân sự chính trị để thực hiện kế hoạch mới. Chúng tăng cường lực lượng cho đồng bằng Bắc Bộ và tập trung mọi lực lượng để xây dựng tập đoàn cố thủ ở Điện Biên Phủ. Trước tình hình đó Đảng ta đã quyết định chọn Tây Bắc làm hướng chính của chiến trường.

            Tháng 12 năm 1952 Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, mở rộng và củng cố vùng giải phóng chuẩn bị cho chiến dịch, hàng vạn bộ đội, dân công, thanh niên xung ở khắp các địa phương được huy động lên chiến trường Tây Bắc. Địa bàn Sơn La nằm trên con đường huyết mạch từ mặt trận Điện Biên Phủ, Ngã ba Cò Nòi là một toạ độ lửa trên đường 41 (Quốc lộ 6 ngày nay) và đường 13 (113A).

            Dọc đường 41 từ Mộc Châu ngã ba Tuần Giáo (Lai Châu) là trận địa của thanh niên xung phong (Mộc Châu là đại đội 290) Tuần Giáo đại đội 401, có gần 20 đại đội bám trụ tuyến đường này Thực Dân Pháp đã tập trung vào các trọng điểm: Cầu Tà Vài (Yên Châu) Ngã ba Cò Nòi (Mai Sơn) Đèo Pha Đin (Thuận Châu).

             Để đảm bảo người và phương tiện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Trung ương quyết định lấy thị xã Yên Bái là nơi tập kết mọi lực lượng và phương tiện cho mặt trận Điện Biên Phủ. Thị xã Yên Bái về địa lý thuận tiện cho chiến trường Điện Biên, lương thực thực phẩm từ Việt Bắc về, từ dưới đồng bằng đến được đổ về thị xã Yên Bái. Từ Yên Bái đến bến phà Âu Lâu qua đèo Lũng Lô, qua phà Tạ Khoa, đèo Chẹn. Đến Ngã ba Cò Nòi. Đường 13 là con đường huyết mạch, độc đạo. Do vậy chủ trương của ta quyết bảo vệ con đường này cho đến cùng. Ta đã kết hợp bộ đội công binh, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến canh giữ và luôn đảm bảo lưu thông trên con đường này.

            Trên đường 13, chúng chặn đánh từ phía phà Âu Lâu (Yên Bái). Đèo lũng lô, Đèo Chẹn; Bến phà Tạ Khoa. Trọng điểm địch đánh phá ác liệt nhất là Đèo Chẹn, Ngã ba Cò Nòi và Đèo Pha Đin, các tướng lính Pháp đã khoanh Đèo Chẹn, ngã ba Cò Nòi và Đèo Pha Đin là những điểm đi trên bản đồ vùng Tây Bắc. Trong đó Ngã ba Cò Nòi là điểm trọng yếu nhất, là điểm nút của đường tiếp tế giữa đường 41 và đường 13. Chúng khẳng định rằng: Việc ngăn chặn và cắt đứt con đường vận tải, tiếp tế về mọi mặt của hậu phương Miền Bắc cho chiến trường Điện Biên Phủ là một vấn đề sống còn của quân đội Viễn Chinh Pháp tại Việt Nam.

Quân Pháp cho rằng, ta không thể cung cấp đầy đủ cho chiến trường Điện Biên Phủ được. Bởi chiến trường xa với hậu phương gần ngàn cây số và phương tiện lại thiếu thốn.

Nhưng với ý chí và quyết tâm cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Trung ương Đảng và Chính phủ ra quyết định.

Địch đánh phá rất ác liệt, nhất là tư khi ta mở đợt tấn công vào mặt trận Điện Biên Phủ ngày 13-3-1945. Trước tình hình đó Bác Hồ kêu gọi đối với thanh niên xung phong.

            “Âm mưu của địch là tích cực đánh phá đường vận tải của ta mong gây cho chúng ta những khó khăn về cung cấp, nhất là trong mùa mưa sắp tới. Vì vậy nhiệm vụ của anh, chị em rất nặng nề và quan trọng. Nó đòi hỏi một tinh thần hy sinh dũng cảm. Một tinh thần bền bỉ, dẻo dai cũng như tinh thần xung phong giết giặc của anh chị em chiến sỹ ở mặt trận. Mong anh, chị em ra sức thi đua đảm bảo đường xã thông suốt, đảm bảo cho bộ đội đủ cơm ăn và đủ vũ khí đạn dược để giết giặc, góp phần vào chiến dịch này”.

(TNXP ngày ấy trang 84, 85 NXBTN – 1997)

            Mùa thu và mùa đông năm 1952 đại đoàn sơn pháo của ta kéo từ Việt Bắc lên mặt trận Điện Biên Phủ, cùng với những binh đoàn chủ lực của ta, hàng trăm xe pháo các loại, hàng vạn dân công được điều động tới mặt trận.

             Nằm trên quốc lộ 13, từ thị xã Yên Bái tới Ngã ba Cò Nòi dài 183 km. Địch không đủ điều kiện đánh phá diện rộng, mà tập trung vào những trọng điểm xung yếu như Đèo Lũng Lô, bến Phà Tạ Khoa là trọng điểm vượt Sông Đà cuối cùng của bộ đội ta. Theo ngành công binh Việt Nam tổng kết: Tại Đèo Lũng Lô địch đánh phá mỗi ngày 31 tấn bom, bến phà Tạ Khoa là 13 tấn, đèo Pha Đin là 17 tấn: Dọc tuyến đường này Ngã ba Cò Nòi là điểm nút, trọng điểm ác liệt nhất, là ngã ba nối giữa đường 41 (quốc lộ 6) và đường 13 địch biết rất rõ: Sự chi viện của đồng bào Việt Bắc, viện trợ của các nước anh em cho mặt trận Điện Biên Phủ cũng từ Việt Bắc, viện trợ của các nước anh em cho mặt trận Điện Biên Phủ cũng từ Việt Bắc lên đường 13, đi qua Ngã ba Cò Nòi, từ khu 3, khu 4, qua đường 15 lê đường 41 qua Ngã ba Cò Nòi rồi mới lên Điện Biên Phủ. Ngã ba Cò Nòi với tính chất quan trọng như vậy, cho nên địch tập trung đánh phá rất ác liệt tại ngã ba Cò Nòi nhằm cắt đứt con đường huyết mạch của ta, chúng ném xuống đây với mật độ bom dày đặc. Cứ 13 phút chúng lại ném bom đánh phá 1 lần. Có ngày chúng thả xuống đây 300 quả bom các loại: Bom phá, bom nổ chậm, bom na pan, bom bươm bướm. Từ tháng 3 đến kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ. Không ngày nào là không ngừng tieéng bôm của máy bay Pháp ném xuống tại nơi đây. Chúng đánh dồn dập, tập trung vào nút điểm Ngã ba Cò Nòi – Mai Sơn Sơn La. Tướng Pháp Na Va vẫn chưa yên tâm về việc ném bom ở Ngã ba Cò Nòi thành 1 bãi lầy. Nhưng với ý chí quyết tâm chiến thắng Ngã ba Cò Nòi vẫn đảm bảo được giao thông, thông suốt. Ngành công binh Việt Nam đã tổng kết. Tại Ngã ba Cò Nòi mỗi ngày Thực Dân Pháp đã ném xuống đây 69 tấn bom các loại.

Mặc dù chúng ta đã mở tuyến đường thuỷ ngược Sông Đà. Nhưng chủ yếu ta vận chuyển cho mặt trận Điện Biên Phủ bằng đường bộ 13 và đường 41 (quốc lộ 6).

           Cùng với hàng vạn nam nữ thanh niên trong cả nước và thanh niên các dân tộc Sơn La không quản khó khăn, gian khổ và hy sinh, ngày đêm chốt ở những trọng điểm thường xuyên bị địch đánh phá. Đảm bảo mạch máu giao thông, thông suốt từ Yên Bái qua Sơn La đến Lai Châu, Điện Biên Phủ. Tại Ngã ba Cò Nòi đoàn thanh niên xung phong Trung ương được giao nhiệm vụ bám trụ tại đây: Gồm 4 đại đội: 300, 301, 303, 403 thuộc hai đội 43 và 40 cùng tham gia chiến đấu với các lực lượng chủ lực. Dưới bom đạn ác liệt của Pháp. Lực lượng thanh niên xung phong luôn bám đường, bám trụ đảm bảo thông đường cho quân và dân ta tiến vào Điện Biên Phủ. Tại trọng điểm Ngã ba Cò Nòi, có ngày đại đội 300 hy sinh 20 đồng chí, số liệt sỹ đã hy sinh tại đây là 100 người.

             Chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, chấn động địa cầu, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, anh dũng của nhân dân ta chống Thực Dân Pháp xâm lược. Chấm dứt ách thống trị, đo hộ gần một thế kỷ của Thực Dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam. Trong chiến dịch này đã góp phần không nhỏ của lực lượng thanh niên xung phong kiên cường, dũng cảm bám sát địa bàn, hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo mạch máu giao thông trên quốc lộ 6. Trong quá trình tham gia chiến dịch tại Ngã ba Cò Nòi 100 đồng chí đã hy sinh tại nơi đây vì sự toàn thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ. Như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Chiến thắng Điện Biên Phủ về lực lượng tham chiến mà nói, là chiến công lẫy lừng của cả một thế hệ thanh niên, trong đó thanh niên xung phong”.

(Ngày 7 – 5 – 1999)

“Ngã ba Cò Nòi – địa danh lịch sử đã viết lên trang anh hùng ca hùng tráng của dân tộc Việt Nam, của Tây Bắc kiên cường, của Sơn La bất khuất”.

(Bài phát biểu của đồng chí Tòng Thị Phóng – Uỷ viên Trung tương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Sơn La, tháng 12 – 1998)

Công lao thành tích và sự hy sinh cao cả của lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam đã được ghi nhận, lưu lại trong trang sử vàng của dân tộc bằng sử sách, bằng tượng đài kỷ niệm của cả nước.

– Ngã ba Cò Nòi – Sơn La; Trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

– Ngã ba Đồng Lộc – Hà Tĩnh; Trong cuộc kháng chiến chống Đế Quốc Mỹ.

            Để ghi nhớ công ơn các liệt sỹ thanh niên xung phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Địa điểm Ngã ba Cò Nòi đã được lựa chọn quy hoạch để trở thành một địa danh lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân các dân tộc Sơn La, ngày 21-4-2000 UBND tỉnh Sơn La đã quyết định khởi công xây dựng khu đài tưởng niệm thanh niên xung phong với quy mô lớn (Diện tích trên 20.000m2). Để xứng đáng với ý nghĩa lịch sử và sự hy sinh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đây là một công trình lịch sử văn hoá của cả nước nói chung và Sơn La nói riêng là trung tâm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam.

4. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

             Chiến dịch Điện Biên Phủ, là chiến dịch lớn nhất, kéo dài nhất và quyết liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta.

            Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Ngã ba Cò Nòi – Mai Sơn – Sơn La là một trong điểm nóng trong chiến dịch. Tại nơi đây lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam đã khong quản hy sinh, gian khổ, bám trụ, bám đường để mạch máu giao thông, thông suốt đảm bảo cho chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi.

Ngã ba Cò Nòi – Là địa danh lịch sử đã viết lên trang anh hùng ca, hùng tráng của dân tộc Việt Nam.

5. Tình trạng bảo quản hiện vật

Trải qua thời gian dài, hiện nay một số hố bom bị đất tràn vào làm nâng hố.

Sưu tầm

Nơi Bác Hồ nói chuyện với Nhân dân các dân tộc, Huyện Yên Châu – Tỉnh Sơn La

Tên di sản:

Nơi Bác Hồ nói chuyện với Nhân dân các dân tộc, Huyện Yên Châu – Tỉnh Sơn La

Địa điểm:

Thị trấn Yên Châu, Yên Châu

Vùng:

Quốc lộ 6

Ý nghĩa lịch sử:

1. Tên gọi

NƠI BÁC HỒ NÓI CHUYỆN VỚI NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC HUYỆN YÊN CHÂU – HUYỆN YÊN CHÂU – TỈNH SƠN LA.

2. Địa điểm phân bố di tích, đường đi đến

– Di tích thuộc thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu tỉnh Sơn La.

– Di tích nằm ở phía Nam thị trấn Yên Châu và cách trung tâm huện lỵ Yên Châu 1km xuôi về phía Hà Nội. Di tích ở phía tay phải quốc lộ 6.

– Phía Đông (trước mặt) giáp quốc lộ 6A.

– Phía Nam giáp đường vào bản Vặt.

– Phía Bắc giáp bệnh viện huyện.

– Phía Tây giáp khu tập thể bệnh viện huyện.

3. Sự kiện nhân vật lịch sử và thuộc tính di tích

            Bác Hồ, người cộng sản lỗi lạc, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cả cuộc đời phấn đấu, hy sinh cho nền độc lập dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân ta. Lúc còn nhỏ tên Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên Nguyễn Ái Quốc. Sinh ngày 19-5-1890 ở làng Kim Liên, Huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, nguồn nông dân và lớn lên ở một địa phương mà nhân dân có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm.

            Người sinh ra khi nước nhà còn đang rên siết dưới ách thống trị của Thực dân Pháp, sẵn lòng yêu nước thương dân, Bác không đành lòng nhìn cảnh nước mất nhà tan, nhưng cũng không tán thành cách đấu tranh “Cải  lương” “Nửa vời” của một số sỹ phu yêu nước. Bác quyết chí ra đi tìm đường cứu nước riêng của mình.

             Ngày 5-6-1911 tại bến cảng Nhà Rồng, trên con tàu Đô đốc La Tu Sơ ter vin Lơ Bác đã lưu luyến từ biệt đất nước ra đi thực hiện ý nguyện của mình. Trong 30 năm Bác đi khắp các nước Châu Mỹ, Châu Âu và làm đủ mọi việc, chịu bao gian nam vất vả và cuối cùng đã tìm thấy ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – LêNin và đã chuyển từ một người yêu nước thành một chiến sỹ Cộng sản hoạt động trong tổ chức Cộng sản Quốc tế.

            Trở về tổ quốc Bác kết hợp nhuần nhuyễn những kiến thức kinh nghiệm đã học được ở nước ngoài, lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết chuẩn bị lực lượng nắm bắt thời cơ giành độc lập cho dân tộc. Ngày 2-9-1945 trên quản trường Ba Đình Hà Nội, Bác đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: Khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tổ quốc ta từ đây mở ra một kỷ nguyên mới tươi đẹp.

            Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình mặc dù bận trăm công ngàn việc của đất nước Bác vẫn thường xuyên quan tâm chăm sóc và dành tình thương yêu tới nhân dân các dân tộc Tây Bắc.Ngay từ những ngày đầu Cách mạng Bác gửi thư khuyên đồng bào “Từ nay về sau các dân tộc đã đoàn kết càng đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phấn đấu nữa, để giữ gìn độc lập cho vững vàng, xây dựng một đất nước Việt Nam mới giàu mạnh, ấm no và hạnh phúc”. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ mặc dù Bác chưa có điều kiện trực tiếp lên thăm Sơn La, nhưng Bác luôn biên thư, gửi điện thăm hỏi, khen ngợi theo dõi từng bước đi, từng tiến bộ của đồng bào.

           Năm 1949, cuộc kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh mẽ ở Tây Bắc, TƯ Đảng quyết định hợp nhất 2 tỉnh Sơn La và Lai Châu thành liên tỉnh Sơn Lai, Bác gửi thư động viên đồng bào, Người viết: “Sơn Lai, tuy ở xa Chính phủ nhưng lòng Chính phủ vẫn ở gần Sơn Lai”. Người còn gửi ảnh tặng đồng bào với lòi dạy: “Thi đua thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

            Ngày 1-1-2952, Bác gửi thư cho cán bộ chiến sỹ và dân công ở mặt trận Tây Bắc, Người nhắc nhở: “Chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch rất quan trọng” Bác thường xuyên sát sao tình hình chiến sự, kịp thời động viên quân và dân Tây Bắc.

           Sau ngày hòa bình lập lại Bác đã nhiều lần gửi thư thăm hỏi đồng bào Sơn La, khuyên dặn đồng bào phải đoàn kết, chặt chẽ, thường xuyên giúp đỡ bội đội, Công an chống mọi âm mưu của địch, thư nào Bác viết cũng không quên gửi lời thăm hỏi tới các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên nhi đồng. Trong các hội nghị có cán bộ dân tộc về dự Bác luôn đành thời gian gặp gỡ trò chuyện hỏi thăm đồng bào. Đáp lại tình cảm, sự quan tâm đặc biệt của Bác, nhân dân các dân tộc Sơn La đoàn kết, chung xây quê hương và bảo vệ vững chắc vùng đất phía Tây Tổ quốc.

             Năm 1954, Chiến thắng Điện Biên Phủ làm nức lòng người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Với khí thế chiến thắng, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến. Cùng với quân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Sơn La Hăng hái bắt tay vào khôi phục kinh tế, thi đua sản xuất. Xây dựng lại cuộc sống ấm no hạnh phúc: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Nhân dân các dân tộc Sơn La mơ ước được đón Bác  lên thăm để nhứng kiến sự đổi đời sâu sắc của đời của đồng bào các dân tộc và mong được Người hướng dẫn chỉ bảo cho những bước đi mới.

            Niềm mơ ước ấy đã trở thành hiện thực, ngày 7-5-1959 nhân dịp  kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và 4 năm lập khu tự trị Thái – Mèo. Bác Hồ cùng đoàn đại biểu Chính phủ, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà tơ Tố Hữu… lên thăm Sơn La. Cuộc mít tinh lớn của hơn một vạn đồng bào đại diện cho 43 vạn quân dân các dân tộc Tây Bắc được tổ chức tại sân vận động Thuận Châu (Thủ phủ của khu Tây Bắc). Cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành biểu dương lực lượng diễu qua lễ đài. Ai cũng hướng về Bác Hồ để khắc sâu hơn nữa hình ảnh của Người.

              Nhân dân nô nức phấn khởi đón Bác, dâng lên những sản phẩm địa phương do chính bàn tay lao động sáng tạo của bà con, thể hiện tấm lòng của đồng bào Tây Bắc.

             Mặc dù chuyến thăm Tây Bắc của Bác không dài nhưng Người đã dành thời gian đến thăm và động viên đồng bào một số địa phương như Yên Châu, Mộc Châu.

             Năm 1959 là năm lịch sử đáng ghi nhớ đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Yên Châu. Nhân dịp kỷ niệm 5 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu phái đoàn Chính phủ lên thăm Tây Bắc. Điều đặc biệt vinh dự đến với nhân dân các dân tộc Yên Châu là được đón Bác và phái đoàn lên thăm. Sáng ngày 8-5-1959 tại sân bản Khoóng (xã Chiềng An) cuộc mít tinh lớn đón Bác và phái đoàn diễn ra , hơn 2000 cán bộ, bộ đọi và đồng bào các dân tộc ở quanh huyện lỵ thay mặt cho tất cả đồng bào trong huyện đã mặc những bộ quần áo đẹp nhất để đi đón Bác. Niềm hạnh phúc lớn lao và giây phút thiêng liêng ấy đã đến. Rừng người, rừng cờ sôi động hẳn lên khi Bác xuất hiện trên lễ đài. Những tràng vỗ tay vang lên không ngớt, Bác giơ tay vẫy chào mọi người, cả rừng người lặng đi trong tiếng nói ấm áp, ân tình của Người. Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe của cán bộ và chiến sỹ nhân dân các dân tộc trong châu. Bác khen: Đảng, Chính phủ và Bác rất vui lòng khen ngợi đồng bào châu nhà trong kháng chiến đã tổ chức đánh Tây rất tốt, đã giúp bộ đội, cán bộ đánh Tây. Thế là tốt.

            Đặc biệt, đồng bào vùng cao sinh hoạt gian khổ, trong kháng chiến rất anh dũng, Đảng và Chính phủ tỏ lời khen.

           Từ ngày hòa bình lập lại, đồng bào, cán bộ, bộ đội đoàn kết rất tốt, giúp đỡ nhau tâng gia sản xuất, học bình dân. Như thế là tốt.

          Với phong cách giản dị, với lời nói so sánh dễ hiểu tình cảm giữa lãnh tụ và nhân dân trở nên gần gũi, thân thiết bao nhiêu trong niềm vui khôn xiết, nhiều cụ già đã cảm dộng trào nước mắt khi nghe Bác hỏi thăm bằng tiếng dân tộc. Bác căn dặn cán bộ, bộ đội và nhân dân các dân tộc Yên Châu là: Đẩy mạnh sản xuất, làm thủy lợi, bảo vệ rừng, xây dựng tổ đổi công hợp tác xã, xóa mù chữ, giữ vệ sinh, đảm bảo an ninh trận tự, tích cực giúp đỡ đồng bào ở vung rẻo cao, đặc biệt là phải đoàn kết, Bác giơ nắm tay lên và nhấn mạnh: “Cán bộ, bộ đội, nhân dân phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay thế này”.

           Sau đó Bác căn dặn riêng cán bộ: “Cán bộ từ trên xuống dưới…đều là đầy tớ của nhân dân…tức là cán bộ phải chăm lo đời sống của nhân dân, phải giúp nhân dân tổ chức được tổ đổi công, hợp tác xã, dân quân, cán bộ phải đến tận nơi giúp đỡ, bao giờ các tổ chức ở đó thật vững mới thôi. Chỗ nào có nhân dân cần đến mình thì mình phải đến, bất kỳ ở chỗ nào cũng là tổ quốc, là đất nước, cũng là cương vị công tác cán bộ. Vì vậy cán bộ địa phương cùng cán bộ nơi khác đều phải đoàn kết thương yêu nhau, làm gương cho nhân dân địa phương.

           Hình ảnh và những lời dặn dò và sự chỉ bảo ân cần của người mãi còn in đậm trong lòng Đảng viên và nhân dân các dân tộc Yên Châu, là người cổ vũ lớn lao động viên Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc vượt qua khó khăn thử thách, thực hiện triệt để chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ đưa châu nhà vững mạnh.

4. Loại hình di tích

            Là loại hình di tích lưu niệm sự kiện lịch sử quan trọng ngày 8-5-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Chính phủ lên thăm nhân dân các dân tộc Yên Châu tại nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với nhân dân các dân tộc Yên Châu vào sáng ngày 8-5-1959.

5. Khảo tả di tích

Trước đây kỳ đài làm bằng gỗ trải qua thời gian đến nay không còn nữa.

Hiện nay chỉ còn lại bãi đất trống.

6. Giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

            Nơi Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Yên Châu đã đi vào ký ức của nhân dân các dân tộc huyện Yên Châu nói riêng và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La nói chung. Ở đây đã đánh dấu một sự kiện lịch sử quan trọng Hồ Chủ tịch cùng phái đoàn Chính phủ đến thăm nhân dân các dân tộc huyện Yên Châu. Từ đó đến nay cứ đến ngày 8-5 địa phương đều tổ chức ôn lại sự kiện lịch sử đó.

7. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích

          Mặc dù di tích chưa được xếp hạng, nhưng xuất phát từ thực tế thể hiện theo nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong huyện và qui hoạch tổng thể của huyện bước đầu địa phương đã lập bản đồ qui hoạch khu bảo vệ tránh sự xâm phạm đất đai của di tích.

          Tuy  nhiên, để có cơ sở pháp lý cao hơn nữa, địa phương đề nghị quan tâm xem xét, xếp hạng di tích để phát huy tác dụng.

Sưu tầm