CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN (DI SẢN TƯ LIỆU THẾ GIỚI)

v_banneer_chaubannguyen

(TITC) – Châu bản là những văn bản của vương triều đã được nhà vua “ngự phê” bằng mực son đỏ. Châu bản triều Nguyễn là các tài liệu hành chính được hình thành trong quá trình quản lý nhà nước của triều Nguyễn (1802 – 1945), triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, bao gồm văn bản của các cơ quan trong bộ máy chính quyền trung ương và địa phương trình lên nhà vua phê duyệt, văn bản các vua ban hành cùng một số văn kiện ngoại giao và thơ văn ngự chế.

Toàn bộ khối Châu bản triều Nguyễn có 773 tập, tương đương khoảng 85.000 văn bản của 11 triều vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại). Các loại hình văn bản của Châu bản triều Nguyễn rất phong phú, bao gồm: chiếu, dụ, chỉ, sớ, tấu, khải, phúc, phiến trình, phiếu nghĩ… được quy định chặt chẽ về chức năng và thẩm quyền ban hành. Châu bản triều Nguyễn chủ yếu được viết tay trên giấy dó, phản ánh các vấn đề của đời sống xã hội, các biến động về lịch sử, các chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20.

Các giá trị nổi bật của Châu bản triều Nguyễn

Tính xác thực

Những sự kiện được ghi chép trong Châu bản mang tính xác thực cao bởi đó là những thông tin phục vụ cho công tác quản lý xã hội và được tiếp nhận, xử lý bởi chính các vua triều Nguyễn. Hình thức văn bản cũng được triều Nguyễn quy định chặt chẽ, các dấu tích để lại trên văn bản như chữ viết của nhà vua, con dấu… rất khó ngụy tạo. Châu bản cũng là nguồn sử liệu quan trọng để biên soạn các bộ sử và các sách điển lệ chính thống như: Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (chính biên, tục biên), Quốc triều chính biên toát yếu, Tự Đức chiếu dụ, Hà đê bộ văn tập, Hà đê tấu tư tập…

Ý nghĩa quốc tế

Châu bản lưu bút tích phê duyệt trực tiếp bằng mực son của các vua triều Nguyễn và sử dụng 4 loại chữ viết là chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ (chữ Việt). Châu bản được soạn thảo và viết tay bằng bút lông bởi các thư lại có khả năng văn chương và chữ viết đẹp. Hệ thống chữ viết trên Châu bản phản ánh các biến chuyển trong việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết ở Việt Nam từ đầu thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, những biến động trong hệ tư tưởng xã hội và sự tác động của làn sóng văn hóa từ các quốc gia xâm chiếm tới các quốc gia thuộc địa.

Châu bản triều Nguyễn còn phản ánh hoạt động giao thương của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới như Indonesia, Singapore, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Tây Ban Nha…

Tính quý hiếm 

Châu bản triều Nguyễn là khối tài liệu duy nhất tại Việt Nam và hiếm có trên thế giới có bút tích của nhà vua phê duyệt chi tiết về mọi vấn đề của đất nước trên văn bản. Đây là các tài liệu gốc rất có giá trị, giúp nghiên cứu phục dựng toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người của một quốc gia trong một giai đoạn lịch sử. Trải qua thời gian, những hình dấu in trên văn bản, bút tích phê duyệt của các vua, hình thức văn bản, ngôn ngữ, chữ viết, chất liệu giấy, mực… đều trở thành những tư liệu quý giá, cung cấp thông tin hữu ích về các lĩnh vực như: hành chính học, văn bản học, gia phả học, ấn chương học…

Tính toàn vẹn

Với 773 tập tương đương khoảng 85.000 văn bản, Châu bản triều Nguyễn là khối tài liệu hành chính lưu giữ đầy đủ và hoàn chỉnh về một triều đại phong kiến ở Việt Nam.

Một trong những giá trị nổi bật của Châu bản triều Nguyễn thể hiện ở chỗ đây là những tư liệu đặc biệt quan trọng góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong 85.000 Châu bản được lưu giữ có khoảng 19 Châu bản ghi lại cụ thể về việc triều Nguyễn hàng năm đã cử thủy quân Hoàng Sa ra 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để khảo sát, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền, khai thác sản vật… cũng như phê chuẩn thưởng/phạt trong việc bảo vệ 2 quần đảo này. Đặc biệt, các châu bản này đã thể hiện Việt Nam là một quốc gia biển rất có trách nhiệm trong công tác cứu hộ, cứu nạn thuyền bè của các nước gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.

Với những giá trị độc đáo, nổi bật, ngày 14/5/2014, tại phiên họp thứ 2 Hội nghị toàn thể lần thứ 6 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (MOWCAP) diễn ra tại Quảng Châu (Trung Quốc), Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện, kho tài liệu đồ sộ này đang được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I (số 18 Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội).

Phạm Phương

 

GIỚI THIỆU VỀ VIỆT NAM

Việt Nam là một đất nước độc đáo. Với diện tích không lớn nhưng bao gồm đa dạng các loại địa hình, cảnh quan thiên nhiên phong phú, giàu truyền thống, phong tục, tập quán, đậm đà bản sắc dân tộc. Thêm vào đó là sự đa dạng của cuộc sống các dân tộc, ngôn ngữ và ẩm thực.

NHỮNG DÒNG SÔNG CHỞ NẶNG PHÙ SA VÀ THÀNH PHỐ MÀU HUYẾT DỤ
Để hiểu hơn về Việt Nam, mời các Bạn cùng chúng tôi trải nghiệm chuyến du lịch xuyên Việt đặc sắc từ những đền chùa cổ kính ở miền Bắc đến Sài Gòn sầm uất, hiện đại tại miền Nam. Dãy núi Hoàng Liên Sơn, nơi sinh sống của những dân tộc ít người với truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá độc đáo của vùng biên giới phía Bắc – vịnh Hạ Long đẹp như trong tranh vẽ. Tiến vào 300 km trong đất liền là Bạn đã đến được thủ đô Hà Nội.

Những công viên rợp bóng cây, hồ màu ngọc bích và những đền chùa cổ kính…Sự cổ xưa của một Châu Á tại nơi đây như đang nhìn giễu cợt vào dòng xe cộ đông đúc trên đường phố. Màn đêm buông xuống, nếu như Bạn đang đi trên xe khách hoặc sau 1 giờ (nếu như bạn đang bay trên máy bay) thì những cảnh vật này được thay thế bằng khung cảnh có một không hai của cố đô Huế cổ kính, đắm mình trong không gian hoa nở. Cách Huế 80 km là thành phố cảng Đà Nẵng – hòn ngọc biển của Việt Nam với hàng chục km trải dài cùng với bãi biển cát trắng.

Tiếp tục hành trình, chúng ta đến với miền Nam Việt Nam. Trước mắt Bạn sắp hiện ra Đô thị cổ Hội An. Thắng cảnh này sẽ thực sự khiến bạn ngạc nhiên với bản sắc Châu Á đích thực và không gian thanh bình, tĩnh tại.
Sau một vài giờ trên tàu, chào đón Bạn sẽ là thành phố biển Nha Trang. Cách 230 km về biên giới phía Nam, trước mặt Bạn sẽ hiện ra Phan Thiết với bờ biển trải dài vô tận. Tiếp tục di chuyển về phía Nam, Bạn sẽ ngã vào Sài Gòn sầm uất và náo nhiệt. Thật khó tin, nhưng chỉ sau 2 giờ đi xe từ thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà những ấn phẩm du lịch Châu Âu gọi là Paris của Châu Á, Bạn sẽ đến với vùng khá độc đáo – Miền Đông Việt Nam với sông Mekong hùng vĩ. Những con thuyền gỗ ngày cũng như đêm không ngừng nghỉ luồn lách qua nhánh của dòng sông hùng vĩ đỏ nặng phù sa khiến chúng ta nhớ đến những thước phim về những chuyến du ngoạn trên truyền dọc sông Mississippi.

Với chuyến du lịch “tốc hành”, tất nhiên chúng ta chưa thể hình dung một cách đầy đủ về nước Việt Nam giàu đẹp, nhưng nó cũng phần nào giúp cảm nhận được bản sắc và sự đa dạng đến khó tin.
Một nước Việt Nam nhiều sắc màu một lần nữa rồi lại một lần nữa đưa du khách đến với ánh sáng mới lạ của Quan Thế Âm, tượng vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt này có thể thấy ở các đền chùa trên đất nước.

MỘT GIA ĐÌNH
Người Việt Nam rất cởi mở, tình cảm, mến khách, yêu lao động và rất yêu đời. Họ luôn tự so sánh mình với cây tre non mềm dẻo, có thể uốn cong nhưng không bao giờ gục ngã. Từ xa xưa phần lớn người Việt Nam tin vào đạo Phật. Nhận thức về thời gian và cuộc sống ở Việt Nam về cơ bản khác với Châu Âu. Nếu trong văn hoá các nơi theo Kito giáo, thời gian được cảm nhận theo tuyến tính, với sự luân phiên các thành tựu cá nhân – những gai đoạn đã qua trên đường đời, thì trong văn hoá người Việt lại mang tính chu kỳ, nghĩa là kết thúc luôn là khởi đầu – ngày mới, tuần mới, mùa mới, năm mới và cuộc sống mới.

Không phải ngẫu nhiên mà hoa sen là một trong những biểu tượng thiêng liêng của Việt Nam. Theo lời người dân địa phương, khi chúng ta quan sát đầy đủ vòng đời của bông hoa sen, trên thực tế là chúng ta nhìn thấy nó tàn và sắp khô héo, nhưng bản thân bông hoa héo đó lại nghiêng so với mặt đất – đây là sự bắt đầu một cuộc sống mới vì những chồi của bông hoa mới đang căng mình đón ánh nắng mặt trời.
Đôi khi người Việt khiến ta tò mò vì thói quen luôn làm việc cùng nhau, chia sẻ những vui buồn, sướng khổ với bạn bè và người thân. Giống như những chú chim, họ chụm vào một tổ. Và điều này cũng không phải là ngẫu nhiên.
Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là thủy tổ sinh ra dân tộc Việt Nam theo truyền thuyết “bọc trăm trứng”. Trăm trứng ấy nở thành trăm người con. Năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển.

VỚI NHỮNG TIA NẮNG MẶT TRỜI ĐẦU TIÊN
Tiếng Việt với 6 thanh rất du dương và âm thanh như tiếng chim hót. Với diện tích khá khiêm tốn nhưng tiếng Việt vang lên với âm điệu rắn rỏi, rõ ràng ở thủ đô Hà Nội, khác với chất giọng địa phương ngọt ngào, êm dịu của người dân miền Trung và miền Nam Việt Nam. Vì vậy trong những trường hợp to tiếng thì người nước ngoài vẫn chỉ hiểu đây là cuộc trò chuyện xã giao giữa 2 người bạn cũ. Sự đa dạng của ngôn ngữ địa phương thể hiện rất rõ tính cách và bản sắc của người dân 3 miền – Bắc, Trung, Nam, sinh sống ở những vùng miền mà vị trí địa lý và điều kiện khí hậu hoàn toàn khác biệt.

Ở Việt Nam một ngày mới bắt đầu rất sớm. Khi bình mình vừa hé rạng, người dân đã vội vã đến các sân vận động và công viên để tập thể dục buổi sáng. Trên vỉa hè của những con phố chật hẹp những gánh phở, bánh mỳ rong và cà phê cóc đã toả ra hương vị ngọt ngào, quyến rũ, mời gọi những vị khách đang đói “ngấu nghiến”. Từ khắp các hang cùng ngõ hẻm vang lên tiếng loa phường phát tin tức buổi sáng và các bài hát. Dù Bạn ở thành phố nào trên đất nước này, cuộc dạo phố ban sáng là việc cần thiết để tìm hiểu một nền văn hoá Việt đa sắc màu cùng những nếp sống của người dân địa phương.

ĐẤU TRANH CHO SỰ HOÀN THIỆN
Việt Nam – một đất nước cổ kính ở khu vực Đông – Nam Á với 4 nghìn năm lịch sử, giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới điển hình và truyền thống đấu tranh anh dũng giành độc lập dân tộc. Theo sử sách Việt Nam, dân tộc đã trải qua 13 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Việt Nam nằm giữa 2 nền văn minh lớn của phương Đông là Trung Quốc và Ấn Độ đã tiếp nhận sự du nhập của trường phái thiền, nhưng qua các thời đại dân tộc Việt luôn gìn giữ bản sắc văn hoá và đấu tranh cho độc lập dân tộc. Văn hoá Châu Âu du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVII. Đầu tiên là các nhà truyền đạo Thiên chúa và những thương nhân, sau đó gần 100 năm Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Điều đáng nói ở đây là qua các thời đại, trong sự tiếp nhận văn hóa phương Tây, Việt Nam đã có những cải biến phù hợp với điều kiện đất nước.

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Việt Nam không những phải đấu tranh với giặc ngoại xâm, mà còn phải phòng chống thiên tai. Để đối phó với bão, lũ lụt và hạn hán người dân đã đắp đê dọc những con sông, xây hồ nhân tạo, kênh và đập thuỷ lợi. Thiên nhiên rất ưu đãi ban tặng cho Việt Nam những cảnh quan hùng vĩ. Việt Nam có 5 di sản được công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Các di sản đã được tổ chức Unesco công nhận tại Việt Nam,