DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH (DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ)

(TITC) Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (gọi tắt là Nghệ Tĩnh). Đây là loại hình nghệ thuật có sức sống lâu bền, in đậm bản sắc tâm hồn, cốt cách của người dân xứ Nghệ, là di sản quý trong kho tàng văn hóa Việt Nam.

Đặc điểm của Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Khởi phát từ hai hình thức dân ca Nghệ Tĩnh là hát ví và hát giặm, Ví, giặm được sử dụng phổ biến trong hầu hết mọi sinh hoạt thường ngày, từ ru con, dệt vải đến trồng lúa, chèo thuyền…

Là lối hát ví von để đối đáp giữa bên nam và bên nữ, ví thuộc thể ngâm vĩnh bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…). Hát ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co giãn một cách ngẫu hứng, âm điệu cao thấp, ngắn dài tùy thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Tính biểu cảm của hát ví phụ thuộc vào hoàn cảnh, không gian, thời gian và tâm tính của người hát. Vì vậy, điệu ví nghe lúc thì mênh mang, sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình, đôi khi lại dí dỏm, hài hước, tươi trẻ. Có nhiều loại ví khác nhau như: ví phường cấy, ví phường gặt, ví phường nón, ví phường đan, ví phường vải, ví phường củi, ví trèo non, ví đò đưa,… với ba hình thức diễn xướng là hát lẻ, hát đối đáp và hát cuộc.

Giặm gần nghĩa với giặm lúa, điền nan, là thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn (vè 5 chữ). Thông thường, một bài giặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 chữ (không kể phụ âm đệm). Khác với ví, giặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh – phách nhẹ, nhịp nội – nhịp ngoại với hai làn điệu chính là hát ngâm và hát nói. Giặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể, khuyên răn, phân trần, giãi bày, cũng có khi dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và trữ tình giao duyên. Có nhiều loại giặm khác nhau như: giặm kể, giặm nói, giặm vè, giặm nam nữ, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm xẩm… với hai hình thức diễn xướng là giặm vè và giặm nam nữ.

Dân ca ví, giặm sử dụng nhiều từ ngữ địa phương với lối hát gần gũi, mộc mạc. Kỹ thuật hát chủ yếu được các nghệ nhân trao truyền bằng hình thức truyền khẩu, đảm bảo khi hát phải đúng tiết tấu, cao độ, trường độ, luyến láy, thể hiện được giọng hát, ngữ điệu của phương ngữ Nghệ Tĩnh.

Giá trị nổi bật của Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Dân ca ví, giặm gắn liền với đời sống và tập quán của cộng đồng người Nghệ Tĩnh, có sức sống mạnh mẽ, luôn được trao truyền, bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Đây là loại hình nghệ thuật có khả năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của người Nghệ Tĩnh, đồng thời phản ánh một cách chân thực mọi biến động của đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, Dân ca ví, giặm còn góp phần giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống như hiếu thảo với cha mẹ, lòng chung thủy vợ chồng, cách cư xử giữa con người với con người; kêu gọi chống áp bức, bất công trong xã hội. Tham gia vào cuộc hát ví, giặm là cơ hội để tăng cường sự gắn kết cộng đồng.

Dân ca ví, giặm là không gian “mở” dành cho tất cả những ai yêu thích ca hát, không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo. Các cuộc hát đảm bảo quyền bình đẳng, sự tôn trọng lẫn nhau giữa cộng đồng, nhóm người và cá nhân, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

Dân ca ví, giặm còn là nguồn cảm hứng, là chất liệu để các nghệ sĩ đương đại sáng tác nhiều tác phẩm âm nhạc, sân khấu mang âm hưởng dân ca, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Thực hành Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Dân ca ví, giặm được thực hành rộng khắp trong cộng đồng người Việt ở 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Theo kết quả kiểm kê của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (năm 2013), hiện có 75 nhóm Dân ca ví, giặm với khoảng 1.500 thành viên tham gia, trong đó có 803 nghệ nhân tại 260 làng (168 làng ở Nghệ An và 92 làng ở Hà Tĩnh).

Với những giá trị độc đáo và nổi bật, ngày 27/11/2014, tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (UNESCO) tổ chức tại Paris (Pháp), Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Phạm Phương

Tài liệu tham khảo

– Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hồ sơ đề cử Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, năm 2013

– Đức Hồng, Sức sống của Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, website http://baobinhphuoc.com.vn/
– Hạnh Nguyên, Ví, giặm: Sức sống của một “đặc sản” xứ Nghệ, website http://daidoanket.vn/
– Nguyễn Văn Hạnh, Ví, giặm xứ Nghệ từ góc nhìn văn hóa học, website http://phanthanhvan.vnweblogs.com/
– ThS. Nguyễn Thị Thuỷ, Vẻ đẹp ví, giặm Nghệ Tĩnh từ góc nhìn ngôn ngữ, website http://dantocvathoidai.vn/

Advertisements

GIỚI THIỆU VỀ VIỆT NAM

Việt Nam là một đất nước độc đáo. Với diện tích không lớn nhưng bao gồm đa dạng các loại địa hình, cảnh quan thiên nhiên phong phú, giàu truyền thống, phong tục, tập quán, đậm đà bản sắc dân tộc. Thêm vào đó là sự đa dạng của cuộc sống các dân tộc, ngôn ngữ và ẩm thực.

NHỮNG DÒNG SÔNG CHỞ NẶNG PHÙ SA VÀ THÀNH PHỐ MÀU HUYẾT DỤ
Để hiểu hơn về Việt Nam, mời các Bạn cùng chúng tôi trải nghiệm chuyến du lịch xuyên Việt đặc sắc từ những đền chùa cổ kính ở miền Bắc đến Sài Gòn sầm uất, hiện đại tại miền Nam. Dãy núi Hoàng Liên Sơn, nơi sinh sống của những dân tộc ít người với truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá độc đáo của vùng biên giới phía Bắc – vịnh Hạ Long đẹp như trong tranh vẽ. Tiến vào 300 km trong đất liền là Bạn đã đến được thủ đô Hà Nội.

Những công viên rợp bóng cây, hồ màu ngọc bích và những đền chùa cổ kính…Sự cổ xưa của một Châu Á tại nơi đây như đang nhìn giễu cợt vào dòng xe cộ đông đúc trên đường phố. Màn đêm buông xuống, nếu như Bạn đang đi trên xe khách hoặc sau 1 giờ (nếu như bạn đang bay trên máy bay) thì những cảnh vật này được thay thế bằng khung cảnh có một không hai của cố đô Huế cổ kính, đắm mình trong không gian hoa nở. Cách Huế 80 km là thành phố cảng Đà Nẵng – hòn ngọc biển của Việt Nam với hàng chục km trải dài cùng với bãi biển cát trắng.

Tiếp tục hành trình, chúng ta đến với miền Nam Việt Nam. Trước mắt Bạn sắp hiện ra Đô thị cổ Hội An. Thắng cảnh này sẽ thực sự khiến bạn ngạc nhiên với bản sắc Châu Á đích thực và không gian thanh bình, tĩnh tại.
Sau một vài giờ trên tàu, chào đón Bạn sẽ là thành phố biển Nha Trang. Cách 230 km về biên giới phía Nam, trước mặt Bạn sẽ hiện ra Phan Thiết với bờ biển trải dài vô tận. Tiếp tục di chuyển về phía Nam, Bạn sẽ ngã vào Sài Gòn sầm uất và náo nhiệt. Thật khó tin, nhưng chỉ sau 2 giờ đi xe từ thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà những ấn phẩm du lịch Châu Âu gọi là Paris của Châu Á, Bạn sẽ đến với vùng khá độc đáo – Miền Đông Việt Nam với sông Mekong hùng vĩ. Những con thuyền gỗ ngày cũng như đêm không ngừng nghỉ luồn lách qua nhánh của dòng sông hùng vĩ đỏ nặng phù sa khiến chúng ta nhớ đến những thước phim về những chuyến du ngoạn trên truyền dọc sông Mississippi.

Với chuyến du lịch “tốc hành”, tất nhiên chúng ta chưa thể hình dung một cách đầy đủ về nước Việt Nam giàu đẹp, nhưng nó cũng phần nào giúp cảm nhận được bản sắc và sự đa dạng đến khó tin.
Một nước Việt Nam nhiều sắc màu một lần nữa rồi lại một lần nữa đưa du khách đến với ánh sáng mới lạ của Quan Thế Âm, tượng vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt này có thể thấy ở các đền chùa trên đất nước.

MỘT GIA ĐÌNH
Người Việt Nam rất cởi mở, tình cảm, mến khách, yêu lao động và rất yêu đời. Họ luôn tự so sánh mình với cây tre non mềm dẻo, có thể uốn cong nhưng không bao giờ gục ngã. Từ xa xưa phần lớn người Việt Nam tin vào đạo Phật. Nhận thức về thời gian và cuộc sống ở Việt Nam về cơ bản khác với Châu Âu. Nếu trong văn hoá các nơi theo Kito giáo, thời gian được cảm nhận theo tuyến tính, với sự luân phiên các thành tựu cá nhân – những gai đoạn đã qua trên đường đời, thì trong văn hoá người Việt lại mang tính chu kỳ, nghĩa là kết thúc luôn là khởi đầu – ngày mới, tuần mới, mùa mới, năm mới và cuộc sống mới.

Không phải ngẫu nhiên mà hoa sen là một trong những biểu tượng thiêng liêng của Việt Nam. Theo lời người dân địa phương, khi chúng ta quan sát đầy đủ vòng đời của bông hoa sen, trên thực tế là chúng ta nhìn thấy nó tàn và sắp khô héo, nhưng bản thân bông hoa héo đó lại nghiêng so với mặt đất – đây là sự bắt đầu một cuộc sống mới vì những chồi của bông hoa mới đang căng mình đón ánh nắng mặt trời.
Đôi khi người Việt khiến ta tò mò vì thói quen luôn làm việc cùng nhau, chia sẻ những vui buồn, sướng khổ với bạn bè và người thân. Giống như những chú chim, họ chụm vào một tổ. Và điều này cũng không phải là ngẫu nhiên.
Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là thủy tổ sinh ra dân tộc Việt Nam theo truyền thuyết “bọc trăm trứng”. Trăm trứng ấy nở thành trăm người con. Năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển.

VỚI NHỮNG TIA NẮNG MẶT TRỜI ĐẦU TIÊN
Tiếng Việt với 6 thanh rất du dương và âm thanh như tiếng chim hót. Với diện tích khá khiêm tốn nhưng tiếng Việt vang lên với âm điệu rắn rỏi, rõ ràng ở thủ đô Hà Nội, khác với chất giọng địa phương ngọt ngào, êm dịu của người dân miền Trung và miền Nam Việt Nam. Vì vậy trong những trường hợp to tiếng thì người nước ngoài vẫn chỉ hiểu đây là cuộc trò chuyện xã giao giữa 2 người bạn cũ. Sự đa dạng của ngôn ngữ địa phương thể hiện rất rõ tính cách và bản sắc của người dân 3 miền – Bắc, Trung, Nam, sinh sống ở những vùng miền mà vị trí địa lý và điều kiện khí hậu hoàn toàn khác biệt.

Ở Việt Nam một ngày mới bắt đầu rất sớm. Khi bình mình vừa hé rạng, người dân đã vội vã đến các sân vận động và công viên để tập thể dục buổi sáng. Trên vỉa hè của những con phố chật hẹp những gánh phở, bánh mỳ rong và cà phê cóc đã toả ra hương vị ngọt ngào, quyến rũ, mời gọi những vị khách đang đói “ngấu nghiến”. Từ khắp các hang cùng ngõ hẻm vang lên tiếng loa phường phát tin tức buổi sáng và các bài hát. Dù Bạn ở thành phố nào trên đất nước này, cuộc dạo phố ban sáng là việc cần thiết để tìm hiểu một nền văn hoá Việt đa sắc màu cùng những nếp sống của người dân địa phương.

ĐẤU TRANH CHO SỰ HOÀN THIỆN
Việt Nam – một đất nước cổ kính ở khu vực Đông – Nam Á với 4 nghìn năm lịch sử, giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới điển hình và truyền thống đấu tranh anh dũng giành độc lập dân tộc. Theo sử sách Việt Nam, dân tộc đã trải qua 13 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Việt Nam nằm giữa 2 nền văn minh lớn của phương Đông là Trung Quốc và Ấn Độ đã tiếp nhận sự du nhập của trường phái thiền, nhưng qua các thời đại dân tộc Việt luôn gìn giữ bản sắc văn hoá và đấu tranh cho độc lập dân tộc. Văn hoá Châu Âu du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVII. Đầu tiên là các nhà truyền đạo Thiên chúa và những thương nhân, sau đó gần 100 năm Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Điều đáng nói ở đây là qua các thời đại, trong sự tiếp nhận văn hóa phương Tây, Việt Nam đã có những cải biến phù hợp với điều kiện đất nước.

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Việt Nam không những phải đấu tranh với giặc ngoại xâm, mà còn phải phòng chống thiên tai. Để đối phó với bão, lũ lụt và hạn hán người dân đã đắp đê dọc những con sông, xây hồ nhân tạo, kênh và đập thuỷ lợi. Thiên nhiên rất ưu đãi ban tặng cho Việt Nam những cảnh quan hùng vĩ. Việt Nam có 5 di sản được công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Các di sản đã được tổ chức Unesco công nhận tại Việt Nam,