Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

Dân tộc Brâu

 

 @DT Brau.gif

Đàn ông Brâu với trang phục truyền thống

Tên tự gọi: Brâu

Tên gọi khác: Brao.

Số dân: 397 người (Tổng cục Thống kê 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc và lịch sử: Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm.

Địa bàn cư trú: Người Brâu ở Đắc Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

03Dantocbrau

Đặc điểm kinh tế: Người Brâu trồng lúa, ngô, sắn trên rẫy là chủ yếu. Săn bắt, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống. Trong làng có lò rèn để tu sửa nông cụ.

Phong tục tập quán

Ăn uống: Người Brâu ăn cơm tẻ và cơm lam, thích uống rượu cần, hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

: Người Brâu ở nhà sàn nhỏ. Các nhà xếp theo dáng hình tròn và hướng vào một nhà chung ở giữa. Nhà này là nơi sinh hoạt chung của bản.

Phương tiện vận chuyển: Vận chuyển chủ yếu bằng gùi.

Hôn nhân: Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, do nhà trai chi phí. Sau hôn nhân, tục ở rể kéo dài 4 – 5 năm, sau đó là thời gian luân cư của hai vợ chồng .

Tang ma: Theo tập quán thổ táng, quan tài chôn nửa chìm, nửa nổi rồi dựng nhà mồ để tùy táng. Xung quanh nhà mồ được trang trí những mặt nạ bằng gỗ.

Lễ hội: Lễ ăn mừng cơm mới là lễ hội lớn nhất. Ngoài ra còn có lễ hội mừng nhà Rông mới.

Tín ngưỡng: Thờ đa thần, gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Trang phục: Nam vận khố, nữ quấn váy tấm, đeo nhiều vòng (cổ, tay, chân). Mùa hè đều ở trần, mùa lạnh khoác thêm một tấm vải.

Đời sống văn hóa: Văn chương truyền miệng có nhiều thể loại, phổ biến là huyền thoại về thần sáng tạo. Dân ca có những bài ca về đám cưới, hát ru, hát đối đáp. Nhạc cụ cổ truyền có đàn klôngpút gọi là táp đinh bổ, nhưng loại được sử dụng thường xuyên, chủ yếu vẫn là bộ chiêng đồng với ba thang âm là coong, mam và tha.

Sưu tầm