Đời sống âm nhạc của người Giẻ Triêng

http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/D…

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam anh em, Giẻ Triêng là một dân tộc thiểu số với khoảng hơn 50.000 người, cư trú rải rác ở 29 tỉnh, thành phố, trong đó chủ yếu tập trung tại vùng cao của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam.

Do môi trường sống tại các vùng núi hiểm trở nên đời sống của bà con khá khó khăn, sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, đánh bắt cá và thu hoạch lâm sản. Tuy nhiên, cũng từ cuộc sống khắc nghiệt ấy mà người Giẻ Triêng đã đoàn kết, tương thân, tương ái, cùng nhau xây dựng đời sống tinh thần hết sức phong phú thông qua những sinh hoạt văn hoá, văn nghệ truyền thống đặc sắc. Trong đó, âm nhạc dân gian là một trong những môn nghệ thuật có sức hấp dẫn kỳ diệu của người Giẻ Triêng.

Trong đời sống của đồng bào Giẻ Triêng, âm nhạc có một vị trí rất quan trọng, như một nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn giúp đồng bào vượt qua mọi khó khăn, thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Âm nhạc của người Giẻ Triêng có một sức lôi cuốn kỳ diệu bởi tiết tấu và những giai điệu của nó luôn tràn ngập hơi thở của cuộc sống, đồng thời nó ẩn chứa biết bao giá trị văn hoá cổ truyền quý giá cần được gìn giữ và phát huy để góp phần tạo nên một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc.

Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

Dân tộc Giẻ Triêng

 

 @Dt Gie Trieng.jpg

Tên tự gọi: Giẻ Triêng

Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy, Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang.

Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong).

Số dân: 50.962 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, ngữ hệ Nam Á.

Nguồn gốc lịch sử: Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.

Địa bàn cư trú: sinh sống tập trung tại tỉnh Kon Tum, vùng miền núi tỉnh Quảng Nam.

@Dt Gie Trieng 1.jpg

Đặc điểm kinh tế: Người Gié-Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy. Ngoài ra còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả. Người Gié-Triêng còn nuôi trâu, bò, lợn, gà. Họ giỏi đan lát, dệt vải.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Gié-Triêng ưa thích các món thịt, cá nướng. Ðồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.

: Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều “bếp” là lối kiến trúc truyền thống. Nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa. Nhà trong làng thường được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông.

Phương tiện vận chuyển: Gùi là loại phương tiện vận chuyển phổ biến. Gùi có nhiều chủng loại khác nhau với nhiều kích cỡ, hình loại.

Hôn nhân: Trai gái tự tìm bạn đời, phụ nữ giữ vai trò chủ động. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.

Tín ngưỡng: Quan niệm con người, mọi vật, cũng như con vật, đều có siêu linh ẩn trú (thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây đa….). Dòng họ, gia đình dều có vật “thiêng” để cầu mùa gắn với canh tác lúa.

Trang phục: Theo truyền thống, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức như các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm..đeo cổ, tay, chân, tai.

Đời sống văn hóa: Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định. Văn học dân gian phong phú với ca dao, tục ngữ, dân ca, truyện cổ. Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc.

Sưu tầm