Lễ hội Tết Khu Cù Tê của dân tộc La Chí  

 

(LVH) – Còn được gọi là Tết uống rượu tháng Bảy, lễ hội này thường được tổ chức vào tháng Bảy âm lịch hàng năm và được xem là lễ hội đặc trưng, có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc La Chí (Hà Giang) và là dịp để người La Chí cầu cho dân bản có cuộc sống bình yên, ấm no, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Lễ hội Tết Khu Cù Tê kéo dài từ ngày 01/7 – 15/7 (âm lịch) mới kết thúc. Ngày mồng hai tháng Bảy, các dòng họ trong làng bắt đầu rộn ràng không khí mổ trâu ăn tết. Thịt trâu là món ăn không thể thiếu trong lễ hội này và đặc biệt, các trưởng tộc phải làm một loại rượu rất đặc trưng của người La Chí đó là rượu “hoãng”, một loại rượu chỉ dùng trong các ngày lễ tết, được đổ vào các sừng trâu để trưởng họ làm lễ cúng.

thầy cúng.jpg

Thầy cúng uống rượu hoãng, một loại rượu không thể thiếu trong ngày tết.

Ảnh: Internet

Sau ngày lễ mổ trâu, các dòng họ đều tổ chức lễ ăn tết tại nhà tộc trưởng của dòng họ. Khi con cháu trong gia đình đến đông đủ, trưởng tộc trong trang phục truyền thống, lưng đeo một miếng da trâu, một tay cầm sừng trâu, một tay cầm một sợi dây treo củ gừng, miệng lẩm nhẩm cúng gọi ba đời tổ tiên về ăn tết tháng Bảy với con cháu. Sau lễ cúng, trống, chiêng nổi lên rộn rã trong suốt những ngày dân làng ăn tết.
Theo lý của người La Chí, sau khi các dòng họ trong làng tổ chức lễ cúng hôm trước thì đến ngày tiếp theo, các trưởng tộc của các dòng họ trong làng lại tập trung tại nhà của già làng để tổ chức lễ cúng chung của làng. Khi đi, trưởng mỗi trưởng tộc sẽ mang theo một cái sừng trâu, một chiếc giỏ tre, một chai rượu và một ít thịt trâu để làm lý cúng (lễ cúng).

Khi các trưởng tộc đã đông đủ, Lễ cúng được tổ chức bên trong nhà của già làng, tại gian chính giữa, dưới bàn thờ tổ tiên. Các thầy cúng trong hội đồng già làng, thường có 7 người do làng bầu ra thông qua hình thức bói chân gà. Bảy người trong hội đồng già làng đảm nhiệm các phần việc khác nhau trong lễ cúng. Những người trong hội đồng già làng ngồi quây quần thành một vòng tròn trước bàn thờ tổ tiên của già làng để làm lễ cúng. Khi hành lễ, trang phục của các thầy cúng phải chỉnh tề theo đúng phong tục truyền thống, trước mặt đặt một chiếc giỏ bên trong có thịt trâu, một tay cầm sừng trâu, một tay cầm sợi dây treo củ gừng. Già làng là người cúng trước, báo cáo với cụ tổ của người La Chí và cụ tổ tiên ba đời trở xuống. Sau đó, các thầy cúng khác trong hội đồng già làng lần lượt cúng mời các vị thần quản lý, cai quản giống cây trồng, vật nuôi, các vị thần cai quản rừng… về ăn tết với dân làng. Sau lễ cúng, trống, chiêng nổi lên rộn rã, lần lượt từng thầy cúng nhảy múa theo nhịp trống chiêng để mời các thần và tổ tiên về ăn tết. Cùng với đó là các điệu múa, bài hát, các trò chơi ném còn, kéo co… của dân làng.

 thầy cúng 1.jpg

Các thầy cúng trong điệu múa mời tổ tiên về ăn Tết.

Ảnh: Internet

Đối với người La Chí, lễ hội Tết Khu Cù Tê là một lễ hội không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc La Chí từ ngàn đời xưa đến nay, là dịp để mọi người trong dòng họ gặp nhau, thể hiện tinh thần gắn kết cộng đồng, cầu cho cuộc sống ấm no, gia đình hạnh phúc và với những giá trị ý nghĩa đó, lễ hội đã được công nhận và tôn vinh trở thành di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia cần gìn giữ, bảo tồn, phát huy trong đời sống của đồng bào.

Sưu tầm

Advertisements

Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

Dân tộc La Chí

 

 @Dt La Chi

Tên tự gọi: La Chí

Tên gọi khác: Thổ Đen, Mán, Xá.

Dân số: 10.765 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói của người La Chí thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái – Ka Đai. Người La Chí chưa có chữ viết riêng.

Địa bàn cư trú: Người La Chí sống tập trung ở hai tỉnh Hà Giang và Lào Cai.

Nguồn gốc lịch sử: Người La Chí sống lâu đời ở miền núi phía Bắc nước ta.

@Dt La Chi 2

Đặc điểm kinh tế: Trồng lúa nước trên ruộng bậc thang, khi thu hoạch đập thóc tại ruộng, cũng làm nương rẫy và trồng màu. Công cụ sản xuất có cày bừa, cuốc, gậy chọc lỗ tra hạt. Săn bắn hái lượm có vai trò đáng kể. Nghề thủ công gồm có dệt vải bông, đan lát. Một số nơi có nghề rèn.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người La Chí thích ăn cơm nếp, thịt khô, sấy, thịt chua. Món da trâu sấy khô rất được ưa chuộng.

Ở: Người La Chí sống thành làng phân tán, ở nhà sàn truyền thống. Nhà đất làm bếp.

Phương tiện vận chuyển: Địu bằng giang hoặc vải gùi có dây đeo qua trán, gánh là phương tiện vận chuyển, bên cạnh đó còn dùng ngựa thồ hàng.

Hôn nhân: Người La Chí có tục trong cưới xin nhà trai phải nộp khoản “tiền công nuôi con gái”.

Tín ngưỡng: Dù ở nhà sàn hay nhà đất, mỗi gia đình đều giành nơi to đẹp nhất để lập bàn thờ tổ tiên. Cúng bái. lễ nghi đối với cả bản hàng năm là lễ liên quan đến gieo trồng, thu hoạch lúa trở thành tín ngưỡng của người La Chí.

 @Dt La Chi 1

Trang phục truyền thống của phụ nữ La Chí

Trang phục: Nam mặc áo dài năm thân, cài khuy nách phải, quần lá tọa và cũng quấn khăn trên đầu và đeo vòng tay. Nữ mặc quần đen, áo dài đen tứ thân xẻ giữa, yếm thêu, thắt lưng bằng dây vải, đội khăn đen dài 3 mét, đeo vòng tai, vòng tay.

Đời sống văn hóa: Người La Chí có đời sống tinh thần cũng phong phú. Những ngày tết, lễ trai gái thường hát đối đáp, chơi đàn tính 3 dây và thường sử dụng  lá cây làm đàn môi. Trống, chiêng được dùng phổ biến trong các nghi lễ cúng bái.

Sưu tầm