Lễ hội té nước của dân tộc Lào ở Lai Châu

(LVH) – Đã thành lệ, cứ thu hoạch xong vụ lúa, khoảng tháng 11 hàng năm, bà con dân tộc Lào ở Lai Châu lại tổ chức Lễ hội Bun Vốc Nậm – lễ hội té nước với nhiều hoạt động mang tính phồn thực như đập mẹt, gõ trống, tuốt lá cọ,… đội nón, khoác áo tơi đi đến các nhà xin nước, xin lộc trời, rồi ra sông té nước vào nhau, nhằm gợi ý trời đất cho mưa xuống để vụ mùa tốt tươi, bội thu và cầu mong cho vạn vật sinh sôi, nảy nở.

 té nước.jpg

Thiếu nữ Lào diện trang phục xinh đẹp trong ngày hội té nước

Từ xưa, dân tộc Lào đã lấy cây lúa nước làm cây trồng chủ đạo. Họ rất coi trọng nước và cho rằng nước là nhu cầu sống của vạn vật. Ngày nay nhiều công trình thủy lợi đã góp phần khắc phục những khó khăn về nước, nhưng tiêu chí nước vẫn là một mối quan tâm và là ý nguyện của đồng bào Lào và họ nương tựa vào “phạ”, “then” để thực hiện ý nguyện đó. Theo thời gian, lễ té nước của đồng bào Lào trở thành Lễ hội cộng đồng với nhiều nét sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, trò chơi dân gian lành mạnh.

Trong lễ hội, tất cả cộng đồng các dân tộc đều được tham gia, và chủ lễ không phải là các “mo bản”, “then bản” hay già làng mà là các nam nữ thanh niên trong bản. Họ đập mẹt, gõ trống, tuốt lá cọ, tuốt lạt… bắt chước tiếng sấm, tiếng mưa rơi. Họ đội nón, khoác áo tơi đến các nhà xin nước, xin lộc trời; ra sông té nước vào nhau với những hành động mang tính phồn thực, nhằm gợi ý cho trời đất để mưa xuống cho vụ mùa tốt tươi, bội thu…

Lễ hội té nước gồm hai phần: phần lễ là cúng cầu các thần linh về chứng giám lễ hội, rồi cho mưa thuận gió hòa, người người mạnh khỏe, nhà nhà hạnh phúc. Đoàn các nghệ nhân đi thành hai hàng, theo sau hai người đánh trống và đánh chiêng tiến về 3 gia đình văn hóa tiêu biểu của xã. Lời xin nước được thể hiện bằng hình thức hát. Chủ nhà thay mặt bà con hát xin với thần linh cho mưa đúng thời vụ, cây cối sinh sôi nẩy nở, không bị sâu bệnh phá hoại. Hát xong, chủ nhà bất ngờ cầm muôi, gáo múc nước ở trong một cái chum để sẵn ngay đầu nhà, té đều vào cả đoàn xin nước.

 té nước 1.jpg

Đồng bào Lào té nước với quan niệm càng ướt nhiều càng may mắn trong lễ hội té nước

Sang phần hội, bà con ra suối té nước với quan niệm càng ướt nhiều càng may mắn. Té nước xong mọi người cùng về thưởng thức các món ẩm thực làm từ sản phẩm nông nghiệp của chính bà con dân tộc Lào như cơm lam, bánh chưng, xôi màu. Bên cạnh đó là các trò chơi đẩy gậy, kéo co, thi văn nghệ… Các bản cử những chàng trai, cô gái khỏe mạnh, khéo léo, xinh đẹp của bản ra đua tài.

Lễ hội khép lại với phần ném còn hào hứng dành cho tất cả mọi người. Lễ hội kết thúc cũng là khi mặt trời xuống núi…

M.Huyền (Nguồn: thethaovanhoa.vn)

 

Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

Dân tộc Lào

 @Dt Lao 1

Tên tự gọi: Lào

Tên gọi khác: Phu Thay, Thay Nhuôn

Nhóm địa phương: Lào Bốc (Lào Cạn), Lào Nọi (Lào Nhỏ)

Dân số: 11.611 người (Tổng cục Thống kê năm 1999)

Ngôn ngữ và chữ viết: Người Lào nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, ngữ hệ Thái – Ka Đai. Có chữ viết riêng theo mẫu chữ Sanscrít viết trên lá cọ.

Địa bàn cư trú: Người Lào sống chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Sơn La và một số ở tỉnh Lào Cai.

@Dt lao

Nguồn gốc lịch sử: Người Lào di cư từ Lào sang lập nghiệp ở nước ta từ vài trăm năm nay.

Đặc điểm kinh tế: Người Lào chủ yếu trồng lúa nước, làm nương rẫy. Chăn nuôi trâu bò làm sức kéo, nuôi gia cầm, làm gốm, dệt thổ cẩm, làm nghề bạc. Hái lượm săn bắn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Lào thường ăn nếp đồ, nay có thêm cơm tẻ. Các món ăn được ưa chuộng như thịt, cá ướp muối hay nướng. Món ăn nổi tiếng là pa đec chấm xôi – một loại chẻo cá. Đồng bào có thói quen ăn bốc.

 @Dt Lao 2

Phụ nữ Lào đang dệt vải

Ở: Nhà ở của đồng bào thường cao, uốn khum ở hai đầu hồi, lợp giang, nứa và quây quần thành bản.

Phương tiện vận chuyển: Người Lào dùng gùi để vận chuyển, ngoài ra còn dùng thuyền trên sông, ngựa thồ trên đường núi.

Hôn nhân: Trước hôn nhân, nam nữ được tự do lựa chọn. Sau lễ cưới, cô dâu ở hẳn bên nhà chồng.

Tang ma: Người chết được làm lễ và chôn cất chu đáo.

Tín ngưỡng: Chịu ảnh hưởng của đạo Phật, người Lào thờ cúng tổ tiên, thờ cúng bản, mường.

Trang phục: Nữ giới mặc váy có gấu thêu hoa văn, đội khăn thêu, mặc áo ngắn hở ngực và thường có hàng khuy bạc. Khi chưa chồng, con gái búi tóc lệch bên trái. Nam giới mặc quần áo ngắn.

Đời sống văn hóa: Người Lào có vốn văn học dân gian phong phú với nhiều huyền thoại, cổ tích, dân ca… Phụ nữ Lào không chỉ hát hay mà còn rất giỏi các điệu dân vũ. Họ thường múa Lăm vông, hát đối đáp, chơi khèn, sáo trong các dịp lễ.

Sưu tầm