Văn hóa cồng chiêng Tây Bắc

http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/V…

Sống trong môi trường thiên nhiên hùng vĩ và tươi đẹp, người Mường ở tỉnh Hòa Bình vùng Tây Bắc tổ quốc từ bao đời nay đã tựa lưng vào dải Trường Sơn vững chãi để lao động, đấu tranh và sinh tồn phát triển. Cũng từ nguồn mạch thiên nhiên đó đã nuôi dưỡng tâm hồn của họ để từ đó mà hình thành nên văn hóa xứ Mường ngày nay.

Người Mường nơi đây đã mang theo suốt thời gian giai điệu tiếng cồng tiếng chiêng của mình cùng hòa nhập với tâm hồn các dân tộc anh em. Văn hóa cồng chiêng xứ Mường đã phần nào khẳng định được qua dặm dài của lịch sử. Giá trị văn hóa đó cần được bảo tồn và phát huy trong công cuộc đất nước đang ngày càng đổi mới, nó có giá trị cao về sự cộng cảm, tinh thần cộng đồng và lòng tự hào dân tộc, Góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt về một nhạc khí về một loại hình văn hóa phi vật thể về mảnh đất và con người nơi vùng cao Tây Bắc của Tổ quốc.

Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

Dân tộc Mường

 

 @Dt Mường

Tên tự gọi: Mường

Nhóm địa phương: Ao Tá (âu tá). Mọi Bi.

Số dân: 1.268.963 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường.

Địa bàn cư trú: Người Mường sống tập trung tại tỉnh Hòa Bình,Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La, Hà Nội.

Nguồn gốc lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt, cư trú lâu đời ở miền núi và trung du.

@Dt Mường 1

Đặc điểm kinh tế: Đồng bào chủ yếu trồng lúa nước, một số ít làm rẫy trồng ngô, sắn; Chăn nuôi trâu, bò, lợn. gà…Nghề đan lát, dệt vải bông và tơ tằm khá phát triển. Ngoài ra, hai thác lâm thổ sản đóng vai trò quan trọng.

Phong tục tập quán

Ăn: Người Mường thích ăn xôi đồ, cơm tẻ, rau, cá…; uống rượu cần và hút thuốc lào.Rượu là đặc sản nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị.

: Sống tập trung thành bản ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối. Nhà sàn gỗ 4 mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt cối giã gạo, chứa công cụ sản xuất. Tổ chức gia đình nhỏ phụ hệ.

Phương tiện vận chuyển: Vận chuyển chủ yếu bằng gùi, gánh.

Hôn nhân: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu. Việc cưới qua các bước chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới, đón dâu.

Tang ma: Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo và đặt trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.

Lễ hội: Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa, hội xuống đồng (Khuông mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới…

Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên

Trang phục: Nam mặc quần áo cánh màu chàm. Nữ đội khăn, mặc yếm và áo cánh ngắn thân xẻ ngực, có nơi xẻ vai, mặc váy dài, kéo cao đến nách. Cạp váy  thường được dệt bằng tơ nhuộm màu tạo nên các hoa văn như rồng, phượng, hươu. chim…

Đời sống văn hóa: Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú (các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ). Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi và những vũ điệu dân gian độc đáo (múa quạt, múa bông. múa sạp. .). Cồng là nhạc cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù.

Sưu tầm