Ước nguyện gìn giữ văn hóa Tày

Trong ngôi nhà sàn rộng trên 70m2, tất cả làm bằng gỗ màu vàng sậm, láng bóng, lợp bằng lá, bên cạnh những vách đan liếp hoa màu xanh xen trắng giữ theo đúng bản sắc văn hóa Tày tại xóm Đồng Mon (xã Trung Hội, huyện Định Hóa), gia chủ là anh Nguyễn Minh Sơn tiếp chúng tôi trong trang phục truyền thống của dân tộc mình. Ngoài đặc trưng là những máng nước, chúng tôi quan sát và thấy giữa nhà bày trí khu thờ tự tổ tiên của gia đình, cạnh đó, từng chồng sách cổ viết bằng tiếng Tày được xếp đặt gọn gàng, ngay ngắn…

AnhSon.jpg

Anh Sơn (đứng ngoài cùng, bên trái) trong buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ nghệ thuật hát Then ATK-Định Hóa.

Theo tìm hiểu của anh Sơn, trong các tư liệu cũ về Then được người cao tuổi truyền lại thì từ thời nhà Mạc xóm Đồng Mon có tên gọi là bản Then vì trong xóm có nhiều thầy Then. Trung tâm xóm được xây dựng ngôi đình để thờ Quý Minh Đại vương (Dương Tự Minh). Trong chiến tranh, ngôi đình và cây thông đã bị thực dân Pháp đốt phá chỉ còn lại phần nền. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống làm thầy Then (anh Sơn là thế hệ thứ 10 trong dòng họ), rồi kế nghiệp ông, anh không chỉ hy vọng mình sẽ giữ nghề truyền thống của gia đình mà còn ước mong sẽ đóng góp công sức nhỏ bé gìn giữ được nét đẹp văn hóa này trong cộng đồng người Tày ở quê hương mình.

Anh kể, những năm chiến tranh loạn lạc, cha anh không có điều kiện làm nghề thầy Then, trước lúc mất, ông để lại cho anh tủ sách gia truyền về Then thời các cụ và căn dặn anh phải nối nghiệp dòng họ làm thầy Then. Thực hiện nguyện ước của cha, từ năm 1995, anh bắt đầu học và tìm hiểu về Then, phấn đấu trở thành thầy Then qua những cuốn sách Nôm Tày đó. Anh có một đam mê là tìm tòi, nghiên cứu các loại sách liên quan đến Then. Để làm phong phú kho tư liệu về Then, anh đã đi khắp trong và ngoài huyện tìm gặp những người biết về Then cổ để tập hợp tư liệu. Trong người anh lúc nào cũng thường trực cây bút, cuốn sổ và một chiếc máy ghi âm ghi lại lời hát, lời kể của các thầy Then. Là một thầy giáo đang dạy tại Trường Tiểu học Bộc Nhiêu, ngoài thời gian lên lớp, anh vẫn dành thời gian nghe lại cuốn băng ghi âm và dịch tiếng Nôm Tày sang tiếng phổ thông. Điều gì chưa tường tận, anh lại tìm gặp những người am hiểu chữ Nôm Tày cổ nhờ dịch hộ, trong số đó có thầy Nguyễn Đình Nguyệt. Gặp thầy là gặp cả một pho sách sống động về văn hóa Then với các làn điệu hát và những câu chuyện cổ tích của người Tày xưa. Mỗi dịp 2 thầy trò gặp nhau trong ngôi nhà sàn nằm giữa núi rừng tại xóm Na Mẩy, xã Yên Trạch của thầy Nguyệt là họ lại say sưa mạn đàm về Then.

Trên 26 năm cặm cụi nghiên cứu, ghi chép, trong nhà anh đang có một “kho báu” lớn sách viết về Then bằng chữ Nôm Tày và rất nhiều những tổng hợp, đánh giá, ghi chép riêng của anh bằng tiếng phổ thông trong quá trình tìm hiểu về loại hình nghệ thuật này. Anh tâm sự: Là giáo viên nên anh có nhiều điều kiện để tìm hiểu về hoạt động mang tín ngưỡng dân gian này cũng như “truyền lửa” cho học sinh của mình, nhất là học sinh dân tộc Tày biết về văn hóa Then, có thể hát được những câu hát then quen thuộc và hiểu về tín ngưỡng này. Thực tế, hát Then thì không ít người biết, nhưng so với những người Tày thì số lượng đó quả thực nhỏ bé.

Anh Sơn trò chuyện rất cởi mở với chúng tôi về niềm vui vừa được trải qua nghi lễ cấp sắc để trở thành thầy Then. Anh đang là thầy Then giữ cấp bậc Tòng cửu phẩm (thầy Then có tất cả 9 bậc, cấp Tòng nhất phẩm là cao nhất). Với anh, đó vừa là niềm vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm lớn lao để có thể “giữ lửa” văn hóa Then và nhân rộng nó trong cộng đồng. Với người Tày, để trở thành thầy Then phải thuộc tất cả các bài hát Then và điệu đàn tính của dân tộc, đồng thời cũng phải biết khấn, làm lễ, múa các động tác diễn tả những mong muốn của người dân chuyển đến thần linh. Nội dung câu hát Then nhằm cầu cho người dân khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, bình an, con cái ngoan ngoãn, mùa màng tốt tươi…

Anh Sơn cho biết: Then là hoạt động mang tín ngưỡng dân gian của người Tày. Thầy Then là người giữ vai trò chủ đạo trong lễ Then. Làm nghề thầy Then không giống như thầy cúng mang những hủ tục lạc hậu, mê tín đị đoan mà là người đứng ra thực hiện các nghi lễ cổ truyền mang tín ngưỡng tâm linh nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa người Tày. Bởi lẽ, trước đây, Then đã sinh ra để phục vụ cuộc sống lao động của con người. Khi lên nương rẫy lao động, người ta hát Then để cổ vũ tinh thần lao động, giúp con người quên đi mệt mỏi. Thông qua các làn điệu then, người dân muốn truyền tải mong ước của mình đến thần linh, cầu mong an lành, mạnh khỏe… Những ngày cận kề Tết như thế này, công việc thầy Then của anh càng bận rộn hơn. Hầu như hôm nào anh cũng đi làm lễ Then cầu bình an, giải hạn, cầu mùa màng tốt tươi cho các gia đình trong xã.

Ngoài công việc bận rộn của một giáo viên và thầy Then, anh Sơn còn đang sinh hoạt trong Câu lạc bộ (CLB) Nghệ thuật hát Then ATK (thuộc Chi hội Nghệ thuật ATK Định Hóa) và CLB hát Then của tỉnh. Hàng tháng, CLB Nghệ thuật hát Then ATK đều tổ chức sinh hoạt trong ngôi nhà sàn của vợ chồng anh. Mỗi buổi sinh hoạt, họ ngồi quây quần trong nhà sàn, cùng đàn, hát, xóc nhạc, có cả múa phụ họa. Tiếng hát Then, đàn tính đã thu hút bà con quanh vùng kéo đến xem, cổ vũ đông đảo làm cho không khí buổi sinh hoạt của CLB càng thêm phần sôi nổi. Điều đặc biệt là cháu Nguyễn Thành Đông, cháu ruột anh mới 6 tuổi nhưng đã biết hát Then từ lúc 4 tuổi. Khi các bác đàn hát, Đông hào hứng ngồi nghe và lẩm bẩm hát theo.

Ngồi trong ngôi nhà sàn mang đậm bản sắc văn hóa người Tày, giữa tiếng đàn tính, xóc nhạc, điệu múa then cổ, giọng hát đắm say của các nghệ nhân tôi thầm nguyện cầu cho những nét văn hóa đặc sắc của người Tày sẽ ngày càng được phong phú hơn đời sống tinh thần của các dân tộc Việt Nam…

Linh Lan

Nguồn: baothainguyen.org.vn

Advertisements

Giới thiệu các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của 53 dân tộc.

01Vanhoadantoc

 

Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng.

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên – gắn bó hoà đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu vị tha, khiêm nhường… Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.

* 54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

– Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là: Kinh (Việt), Chứt, Mường, Thổ.

– Nhóm Tày – Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

– Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ HoCờ Tu, Giẻ TriêngHrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, MảngM’NôngƠ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

– Nhóm Mông – Dao có 3 dân tộc là: Dao, HMông, Pà Thẻn.

– Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:  Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

– Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

– Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

– Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hoá các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn. Càng nghiên cứu, tìm hiểu ta càng thấy say mê, cuốn hút và ta càng thấy thêm yêu đất nước Việt Nam hơn.

  • Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hoá truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam.

Sưu tầm

 

Dân tộc Tày  

 

 @Dt Tày 1

Tên tự gọi: Tày

Tên gọi khác: Thổ

Nhóm địa phương: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.

Số dân: 1.626.392 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

Ngôn ngữ và chữ viết : Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, ngữ hệ Thái – Ka Đai. Đồng bào có chữ nôm Tày.

Địa bàn cư trú : Người Tày chủ yếu sinh sống ở miền Đông Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Quảng Ninh, Bắc Giang… )

@Dt Tày 2

Nguồn gốc lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Đặc điểm kinh tế: Người Tày có truyền thống trồng lúa nước lâu đời với kỹ thuật thâm canh các biện pháp thuỷ lợi. Ngoài ra, đồng bào còn trồng trọt trên đất bãi với lúa khô, hoa màu, cây ăn quả… Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm. Các nghề thủ công gia đình được chú ý, nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Phong tục tập quán:

Ăn: Người Tày thích ăn nếp. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh làm từ bột nế.. Ðặc biệt người Tày có bánh bột nhân bằng trứng kiến và cốm nếp.

: Người Tày cư trú tập trung ở những thung lũng ven suối hoặc triền núi thấp. Cư trú theo đơn vị làng, bản. Nhà ở có nhà sàn, nhà đất và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ được xây dựng theo kiểu pháo đài đề phòng hoả hoạn. Nhà sàn là nhà truyền thống có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ; thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Hôn nhân: Nam nữ tự do yêu đương nhưng hôn nhân phụ thuộc bố mẹ hai bên và “số mệnh” theo quan niệm. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Tang ma: Nhiều nghi lễ nhằm được tổ chức nhằm báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên.

Lễ hội: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau (Tết Nguyên đán, tết rằm tháng 7, Tết gọi hồn trâu bò, cơm mới..)

Tín ngưỡng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra người Tày còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Trang phục: Nam, nữ thường mặc quần áo chàm đen không thêu hoa văn. Nữ mặc áo dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách và cài 5 khuy bên phải. Một số nơi. nữ quấn khăn hình chóp trên đỉnh đầu hay hình mái nhà..

Đời sống văn hóa: Người Tày có kho tàng truyện cổ tích, thơ ca, hò vè.. Đàn tính là nhạc cụ được sử dụng phổ biến ở người Tày. Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng…. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối gỗ khá độc đáo.

Lễ hội nông nghiệp truyền thống của người Tày

  • Lễ hội Lồng Tồng (hay Xuống đồng)

– Thời gian: vào khoảng tháng Giêng

– ý nghĩa: Cầu trời đất yên hòa, mùa màng tốt tươi, người an vật thịnh

  • Lễ hội cầu Yên 

– Thời gian: tổ chức vào tháng Giêng

– Ý nghĩa: cầu mong mọi người khỏe mạnh, làm ăn phát đạt

  • Lễ mừng cơm mới

– Thời gian: cuối tháng 9 đầu tháng 10 dương lịch hàng năm (Người Tày vùng Bắc Hà) và vào tháng 11,12 âm hàng năm đối với người Tày vùng Đà Bắc, Hòa Bình

– Ý nghĩa: tổng kết một năm sản xuất, dâng thành quả lao động cúng đất trời, cầu mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt, mùa màng tươi tốt, con cháu mạnh khỏe và bày tỏ sự tôn kính lên ông bà tổ tiên đã khuất.

  • Lễ hội Nàng Hai

– Thời gian: Tổ chức vào tháng Giêng hàng năm (bản Nà Cạo, xã Chí Minh, Lạng Sơn). ở cao Bằng, thời gian tổ chức hội Nàng Hai phụ thuộc vào thời gian đã quy định ở từng xóm từ thời xa xưa truyền lại; như ở Bản Guống đón trăng vào ngày mùng 6 tháng hai và đưa tiễn trăng vào ngày 24 tháng 3. Bản Nưa Khau đón trăng vào ngày 11 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào ngày 22 tháng 3. Bản Ngườm Cuông đón trăng vào ngày 15 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào ngày 21 tháng 3.

– Ý nghĩa:“Mời Nàng Hai (mời Nàng Trăng) xuống hạ giới để giao lưu cùng với con người, cầu khấn các nàng tiên phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu, cuộc sống yên vui.

  • Lễ hội rước Đất, rước Nước (Bắc Hà, Lào Cai)

– Tổ chức vào rằm tháng Giêng hàng năm

– Ý nghĩa: Cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ cạn, giúp dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm.

  • Tết “Đắp nọi”

– Thời gian: Tổ chức vào ngày 30 tháng Giêng hàng năm (Bắc Kạn)

– Ý nghĩa: Đánh dấu kết thúc tháng ăn Tết, kết thúc cuộc vui, bắt đầu vào một mùa lao động mới.

  • Tết Rằm tháng Bảy (Tết Slip slí) (Bắc Kạn)

– Thời gian: Rằm tháng bảy

– Ý nghĩa: Thờ cúng tổ tiên, cúng các vong hồn và là dịp để gia đình, dòng họ xum họp, con cái thể hiện lòng biết ơn, tình cảm và lòng hiếu thuận đối với cha mẹ.

Sưu tầm